Thông tin về nhà thuốc Đông y gia truyền dân tộc Trung Thành:

Nhà thuốc Đông Y gia truyền Trung Thành: Địa chỉ 234 Phố Phúc Sơn, Thị Trấn Bút Sơn, Hoằng Hóa, Thanh Hóa Chuyên đặc trị các bệnh vẩy nến, á sừng, tổ đỉa Vì nhân dân phục vụ, chữa bệnh cứu người, đảm bảo không khỏi không lấy tiền. Phục vụ đồng bào nhân dân ở mọi miền tổ quốc. Liên hệ thầy Thành số điện thoại 0915547153.

Thông tin về nhà thuốc Đông y gia truyền dân tộc Trung Thành:

Nhà thuốc Đông Y gia truyền Trung Thành: Địa chỉ 234 Phố Phúc Sơn, Thị Trấn Bút Sơn, Hoằng Hóa, Thanh Hóa Chuyên đặc trị các bệnh vẩy nến, á sừng, tổ đỉa Vì nhân dân phục vụ, chữa bệnh cứu người, đảm bảo không khỏi không lấy tiền. Phục vụ đồng bào nhân dân ở mọi miền tổ quốc. Liên hệ thầy Thành số điện thoại 0915547153.

Thông tin về nhà thuốc Đông y gia truyền dân tộc Trung Thành:

Nhà thuốc Đông Y gia truyền Trung Thành: Địa chỉ 234 Phố Phúc Sơn, Thị Trấn Bút Sơn, Hoằng Hóa, Thanh Hóa Chuyên đặc trị các bệnh vẩy nến, á sừng, tổ đỉa Vì nhân dân phục vụ, chữa bệnh cứu người, đảm bảo không khỏi không lấy tiền. Phục vụ đồng bào nhân dân ở mọi miền tổ quốc. Liên hệ thầy Thành số điện thoại 0915547153.

Thông tin về nhà thuốc Đông y gia truyền dân tộc Trung Thành:

Nhà thuốc Đông Y gia truyền Trung Thành: Địa chỉ 234 Phố Phúc Sơn, Thị Trấn Bút Sơn, Hoằng Hóa, Thanh Hóa Chuyên đặc trị các bệnh vẩy nến, á sừng, tổ đỉa Vì nhân dân phục vụ, chữa bệnh cứu người, đảm bảo không khỏi không lấy tiền. Phục vụ đồng bào nhân dân ở mọi miền tổ quốc. Liên hệ thầy Thành số điện thoại 0915547153.

Thông tin về nhà thuốc Đông y gia truyền dân tộc Trung Thành:

Nhà thuốc Đông Y gia truyền Trung Thành: Địa chỉ 234 Phố Phúc Sơn, Thị Trấn Bút Sơn, Hoằng Hóa, Thanh Hóa Chuyên đặc trị các bệnh vẩy nến, á sừng, tổ đỉa Vì nhân dân phục vụ, chữa bệnh cứu người, đảm bảo không khỏi không lấy tiền. Phục vụ đồng bào nhân dân ở mọi miền tổ quốc. Liên hệ thầy Thành số điện thoại 0915547153.

Chào mừng bạn đến website của Nhà Truốc đông y gia truyền dân tộc Trung Thành.

Nhà thuốc Đông Y gia truyền Trung Thành: Địa chỉ 234 Phố Phúc Sơn, Thị Trấn Bút Sơn, Hoằng Hóa, Thanh Hóa Chuyên đặc trị các bệnh vẩy nến, á sừng, tổ đỉa Vì nhân dân phục vụ, chữa bệnh cứu người, đảm bảo không khỏi không lấy tiền. Phục vụ đồng bào nhân dân ở mọi miền tổ quốc. Liên hệ thầy Thành số điện thoại 0915547153

Wikipedia

Kết quả tìm kiếm

Thứ Bảy, 19 tháng 7, 2014

An Dương Vương : “Giặc Thục” hay anh hùng bi tráng ?

ST

Trần Xuân An

1
Phan Bội Châu viết trong cuốn “Việt Nam quốc sử khảo”: “Nước ta, mọi việc từ thời giặc Thục trở về trước không thể kê cứu rõ. Còn kể từ thời Triệu Vũ về sau…” (*).
Tại sao lại gọi An Dương vương Thục Phán là “giặc Thục”, nhất là khi hai chữ “giặc Thục” đi liền với “Triệu Vũ”, họ và vương hiệu của tên giặc đích thực Triệu Đà (Triệu Vũ vương), cách gọi tỏ ý tôn trọng?
Khi đặt vấn đề như thế, không thể không gây nên một tổn thương của người Việt chúng ta. Nhân vật  An Dương vương Thục Phán từ lâu đã trở thành một huyền tượng anh hùng dân tộc kháng chiến chống quân xâm lược của Tần Thuỷ hoàng, chống Triệu Đà xâm chiếm, với bi kịch nước mất nhà tan. Truyền thuyết về An Dương vương và về mối tình đau thương, oan nghiệt Mỵ Châu – Trọng Thuỷ tự bao giờ đã phủ lên những con người có thật ấy một huyền sử với lòng ngưỡng vọng, chiêm nghiệm vừa tự hào, vừa bi thương, chua xót của hậu thế.
Nhưng, ngẫm lại, lạ lùng thay, đồng thời huyền sử cũng khắc sâu vào tâm thức dân tộc Việt Nam một hình tượng khác, hầu như trở thành hình tượng có tính chất cao cả hơn – hình tượng tín ngưỡng –, gắn liền với ý thức cội nguồn nguyên sơ nhất, sâu xa nhất và tự hào nhất. Đó là hình tượng Quốc tổ Hùng vương. Phải chăng trong tâm thức chúng ta tồn tại từ bao giờ một nghịch lí? Không nghịch lí thế nào được khi chính Thục Phán đã tiêu diệt nước Văn Lang do mười tám đời vua Hùng cùng dân tộc Lạc Việt dày công xây dựng, và chính vua Hùng thứ mười tám đã uất hận đến mức thổ huyết rồi gieo mình xuống giếng sâu để tự sát?
Thật ra, trong các bộ chính sử như Đại Việt sử kí toàn thư (1697), Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) và trong dã sử, huyền sử của dân gian Việt Nam, mặc dù xác định mười tám vị Hùng vương là những huyền tượng lịch sử – tín ngưỡng, nhưng chưa bao giờ có một mảy may nghi ngại về tính chân thực lịch sử bất di bất dịch. Khác với huyền tượng Quốc tổ, chính sử (gồm cả phần huyền sử, chỉ xem là ngoại kỉ) được viết từ triều đại nhà Trần đến nhà Hậu Lê (1697), ngay cả chính sử trong thời Nguyễn từ triều Tự Đức đến Kiến Phúc (1884), vấn đề về An Dương vương không phải không bị các sử gia đặt một dấu hỏi khốc liệt nhất, có thể diễn đạt với ngôn ngữ hiện đại là: An Dương vương, kẻ thù dân tộc hay anh hùng bi tráng của dân tộc? Và Phan Bội Châu đã nhận định thế nào về An Dương vương, chúng ta đã biết. Cụ Phan, một người được sinh ra, lớn lên ở xứ Nghệ, làng quê thuộc huyện Nam Đàn, rất gần với Đền Cuông (Đền Công) thuộc huyện Diễn Châu (nơi An Dương vương đã đến lúc cùng đường, phải tự chính tay mình tử hình “kẻ thù ngồi sau lưng” là Mỵ Châu, rồi nhảy xuống biển tự sát; An Dương vương, Mỵ Châu đã được nhân dân và các triều đại lập đền thờ ở đấy). Dẫu vậy, nhà yêu nước họ Phan này, trong cuốn sách phục vụ cho nhiệm vụ tuyên truyền cổ động cách mạng (thân Nhật), Việt Nam quốc sử khảo (1909), đã quyết liệt định danh: “giặc Thục”! “Giặc Thục”? Quả thật, chưa bao giờ chính sử nước ta trong thời phong kiến lại ghi vào sách sử hai chữ vừa dứt khoát vừa khủng khiếp đến thế, mặc dù chính sử ngày xưa đã có nêu câu hỏi về An Dương vương, và cũng chỉ dám “dĩ nghi truyền nghi” (giữ sự nghi ngại để truyền lại sự nghi ngại [chưa khảo cứu được])? Còn sử học ngày nay vẫn nêu lại vấn đề, và kết luận An Dương vương là nhân vật lịch sử xứng đáng để vinh danh, không kém gì việc vinh danh các vua Hùng dựng nước. Còn phía văn học sử, truyền thuyết An Dương vương lại càng toả sáng. Như thế, phải chăng không còn tồn tại nghịch lí?

2
Cũng như văn học sử, lịch sử chính trị – xã hội của bất kì nước nào trên thế giới cũng gồm có hai phần chính, tương ứng với hai thời kì phát triển chính. Đối với văn, đó là phần dân gian (văn truyền miệng) và phần bác học (văn viết). Đối với sử, đó là phần được gọi bằng đặc trưng của nó, dã sử hay huyền sử, và phần sử thành văn, được ghi chép, bình luận bởi các sử gia. Sử thành văn gồm cả thời có văn tự, trước thời Trần rất xa; ở các giai đoạn về sau, hầu hết là do các sử gia cũng là chứng nhân đương thời ghi chép.
Vấn đề An Dương vương không một ai không khẳng định là thuộc về dã sử hay huyền sử, mặc dù đã vượt qua mức độ thần thoại để đạt tới mức độ truyền thuyết, mặc dù thư tịch cổ Trung Hoa có ghi chép sơ lược. Do đó, cũng như vấn nạn huyền sử của bất kì nước nào, trong đó còn tồn đọng nhiều ức đoán mơ hồ, lung linh rất đẹp nhưng cũng khá gây hiệu ứng nghi ngại!
Sử thần Ngô Sĩ Liên viết: “Chuyện rùa vàng đáng tin chăng? […] Đến như truyện Mỵ Châu rắc lông ngỗng chỉ đường, thì chưa chắc đã có. […] Thế thì việc ma quỷ làm đổ thành cũng đáng tin sao? […] Đến như sử chép An Dương vương bại vong là do nỏ thần bị đổi lẫy, […] đều là mượn lời để cho vật trở thành thiêng mà thôi” (1).
Nhưng vấn đề nghiêm trọng không phải là ở đó. “Giặc Thục”, nhức nhối là ở chỗ này.
Toàn thư ghi rõ: “Cuối thời Hùng vương, vua có con gái gọi là Mỵ Nương, nhan sắc xinh đẹp. Thục vương nghe tiếng, đến cầu hôn. Vua muốn gả, nhưng Hùng hầu can rằng: ‘Họ muốn chiếm nước ta, chỉ lấy việc hôn nhân làm cớ mà thôi’. Thục vương vì chuyện ấy để bụng oán giận”. […] “Mị Nương đã lấy Sơn Tinh, Thục vương tức giận, dặn lại con cháu phải diệt Văn Lang mà chiếm lấy nước. Đến đời cháu là Thục Phán có dũng lược, bèn đánh lấy nước”. […] “Quân Thục kéo sát đến nơi, [vua Hùng – ct.] hãy còn say mềm chưa tỉnh, rồi thổ huyết chảy [nhảy? – ct.] xuống giếng chết, quân lính quay giáo đầu hàng Thục vương” (2).
Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884), một bộ sử lớn thứ hai, sau Toàn thư, cũng chép lại sự kiện trên không khác, sau khi đã khảo cứu kĩ lưỡng. Ở phần mục (thuyết, diễn giải) hầu như y hệt, và ngay mấy dòng cương (tiêu đề) lại càng cô đọng thật rõ ràng: “Thục vương Phán đem quân sang xâm. Hùng vương nhảy xuống giếng chết. Nước Văn Lang mất”; ở phần cương kế tiếp: “Thục vương đã lấy được nước Văn Lang, đổi tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê” (3).
Không còn nghi ngờ gì nữa, nước Văn Lang của dân tộc ta, dưới sự thống lĩnh của triều đại Hùng vương có công dựng nước, đã bị xâm lược và bị mất nước vào tay vua nước Thục! Như thế, Thục Phán (An Dương vương) không phải “giặc Thục” là gì!
Vấn đề gây nhiều tranh cãi ấy, thật ra, mấu chốt là ở chỗ “nước Thục”, “vua, họ Thục, huý Phán, người đất Ba Thục” (3). Chính Quốc sử quán triều Nguyễn, trong bản tấu nghị đầu tiên lúc mới nhận chỉ dụ khởi thảo (ngày 10 tháng 6 năm Tự Đức thứ 9 [11. 7. 1856]) cũng cho là: “An Dương vương là người nước ngoài, nhân dịp người ta suy yếu, trước thì cậy sức mạnh kiêm tính nước người…” (4). Tự Đức không khẳng định về khía cạnh đó, nhưng cũng ra chỉ dụ: “… Công việc của An Dương vương cũng chuẩn cho chép vào phụ lục, để tiện khảo cứu đính chính” (5). Tự Đức chỉ nêu lí do: nhà Thục của An Dương vương dẫu không quá ngắn ngủi, nhưng vỏn vẹn mỗi một đời vua duy nhất. Cuối cùng, ở bản Phàm lệ, Quốc sử quán triều Nguyễn xác định không xem An Dương vương là chính thống, mặc dù vẫn gọi là vương như Toàn thư, “duy lúc chết thì chép chữ ‘hoăng’, để phân biệt với triều chính thống” (6). Như vậy, ở Toàn thư (1697), An Dương vương được sử gia nước ta xếp thành một kỉ chính thống, “kỉ nhà Thục” (7), tương đương với “kỉ Hồng Bàng thị” trước đó, các “kỉ nhà Lê”, “kỉ nhà Lý”… sau đó; nhưng ở Cương mục (1884), An Dương vương không còn là chính thống nữa, chỉ là phụ chép mà thôi.
Căn cứ nào để xem là chính thống hay phi chính thống, nếu không xác định rõ là “họ muốn chiếm nước ta” (Toàn thư, sđd.), là “người nước ngoài”, “người đất Ba Thục”, “kéo quân sang xâm” (Cương mục, sđd.), tức là quân xâm lược. Xem rất đơn giản nhưng lại khá rắc rối là ở chỗ, cả Cương mục lẫn Toàn thư đều xác định như thế nhưng lại mâu thuẫn ở cách định danh: chính thống hay phi chính thống. Tại sao có sự rắc rối này?
Trong bài “Việt giám thông khảo tổng luận” (1514) của Lê Tung, được đặt trang trọng ở phần đầu sách Toàn thư (1697), ghi rõ: “An Dương vương, phía tây thì dời sang Ba Thục, phía nam thì diệt vua Hùng vương, đóng đô ở Loa Thành, giữ nước Âu Lạc, nhờ được nỏ móng rùa, đánh lui quân nhà Tần, quen mui đánh thắng, yên vui sinh kiêu, quân Triệu đến đánh mà cõi bờ không giữ được” (8). Xin nhấn mạnh: “đánh lui quân nhà Tần”, vào lúc Tần Thuỷ hoàng còn tại vị, và giết được tướng giặc là Đồ Thư. Đó là một sự nghiệp rất đáng kể. Và phải chăng vì thế, Toàn thư châm chước xếp là chính thống? Tuy nhiên, riêng về chiến công trực tiếp tiêu diệt tên tướng giặc Đồ Thư đó, phải chăng một phần là do sự ngộ nhận về địa danh và địa giới thuộc về địa danh, vốn luôn thay đổi một cách rất rắc rối? Phải chăng người Việt ở xứ Việt khác (tuy cũng thuộc Bách Việt) trực tiếp tiêu diệt được tướng giặc Đồ Thư, chứ chưa hẳn là do người Âu Việt và Lạc Việt nước ta (cũng thuộc Bách Việt)? Ở sự kiện khác, cả Toàn thư lẫn Cương mục đều chép, ngay từ năm Thục An Dương vương thứ 44 (214 tr. c. ng.), khi Nhâm Ngao và Triệu Đà vốn là quan tướng nhà Tần (Trung Hoa) được Tần Thuỷ hoàng cử sang xâm chiếm các vùng đất phương nam, “Ngao và Đà nhân đó mưu xâm chiếm nước ta” (9) và bốn năm sau, “Tân mão, năm thứ 48 (210 tr. c. ng.), (Tần Thuỷ hoàng năm thứ 37). Mùa đông, tháng 10, Tần Thuỷ hoàng mất ở Sa Khâu. Nhâm Ngao và Triệu Đà đem quân sang xâm lấn. Đà đóng quân ở Tiên Du, Bắc Giang đánh nhau với vua. Vua đem nỏ thần ra bắn, Đà thua chạy” (9). Lúc này, không còn nghi ngờ gì nữa, An Dương vương đánh thắng Triệu Đà, tức là đánh thắng nhà Tần. Cương mục (1884) cũng chép y hệt như thế, kể cả việc “người Bách Việt bấy giờ đều rủ nhau núp vào trong rừng rậm, không ai chịu để cho người Tần dùng” (10); cùng việc “lại ngầm bầu những người tài giỏi lên làm làm tướng, đánh nhau với người Tần, giết được hiệu uý Đồ Thư” (10) như trên đã nói.
Nhưng cho dù có chiến công đánh bại quân binh nhà Tần (Đà và Ngao) vào năm 210 tr. c. ng. như vậy, hậu thế vẫn có thể đặt lại vấn đề: An Dương vương Thục Phán vẫn là quân xâm lược, vẫn là “giặc Thục”; dẫu đánh thắng Đà và Ngao (đang là quan tướng viễn chinh của nhà Tần), thì cũng chỉ là quân xâm lược đánh thắng quân xâm lược, “giặc Thục” đánh thắng giặc Đà, giặc Ngao (thuộc hạ của giặc Tần Thuỷ hoàng đầu sỏ) mà thôi. Xin in đậm tám chữ trên để nhấn mạnh điều này.
Nếu theo chuỗi luận cứ đó, phải thừa nhận Phan Bội Châu rất đúng đắn khi gọi An Dương vương là “giặc Thục”, mặc dù quê hương của cụ thờ phụng An Dương vương và Mỵ Châu – Trọng Thuỷ tại Đền Cuông (núi Dạ Sơn, xã Cao Xá, huyện Diễn Châu, Nghệ An).
Thật ra, chắc hẳn Phan Bội Châu chỉ đọc được Toàn thư cùng các sách sử khác, nhưng chưa được đọc Cương mục cùng các sách sử được Quốc sử quán tham khảo, đối chiếu, thể hiện trong bộ sử này.

3
Vấn nạn nhức nhối vẫn còn đó, khi chưa xác minh được An Dương vương Thục Phán có phải là con cháu vua nước Ba Thục và nối ngôi làm vua nước Ba Thục ấy hay không, và đích thực nước Ba Thục có phải là một nước ở vùng đất Tứ Xuyên, Trung Hoa hay không. Nếu đúng như thế, trách gì Phan Bội Châu không gọi An Dương vương Thục Phán là “giặc Thục”!
May thay, Cương mục ghi rõ lời cẩn án: “Ba Thục với Văn Lang còn cách Tuấn Điền (nay thuộc Vân Nam [Trung Quốc – ct.]) không liền đất nhau. […] Việc Thục vương sau đây đều là hư truyền cả, mà chưa khảo cứu được”; “Nước Thục, từ năm thứ 5 đời Thận Tĩnh vương nhà Chu (316 tr. c. ng.), đã bị nhà Tần diệt rồi, làm gì còn có vua nữa? Huống chi từ Thục đến Văn Lang, còn có đất Kiện Vi (nay thuộc Vân Nam), đất Dạ Lang, đất Cùng, đất Tác và đất Nhiễm Mang (những đất này xưa là đất mọi rợ ở về phía tây và nam, nay thuộc Vân Nam), cách nhau hàng hai, ba ngàn dặm, có lẽ nào Thục vượt qua được các nước ấy mà sang đánh lấy nước Văn Lang? Sử cũ đã chép “cháu Thục vương là Phán”, lại chép “An Dương vương họ Thục, huý Phán, người đất Ba Thục”, hoặc giả ngoài cõi Tây Bắc giáp với nước Văn Lang, còn có họ Thục khác mà Sử cũ liền nhận là Thục vương chăng? Chứ nếu bảo Thục vương đây lại là người Ba Thục thì không phải” (11).
Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa: “Chứ nếu bảo Thục vương đây lại là người Ba Thục thì không phải”. Đó là một lời khẳng định dứt khoát.
Vậy An Dương vương là người nước nào? Là người Việt chăng? Nhưng là Việt nào trong Bách Việt? Câu trả lời: Âu Việt (Tây Vu). Cho nên, khi sáp nhập Âu Việt (Tây Vu) với Lạc Việt (quốc hiệu Văn Lang), tên nước trở thành Âu – Lạc (Âu Việt + Lạc Việt). Lâu nay, hầu như trong tâm thức người Việt Nam chúng ta đều mặc nhiên khẳng định như thế. Đó chỉ là sự sáp nhập hai lãnh thổ của hai bộ tộc Việt gần gũi nhau về mọi mặt, vốn là đồng bào (huyền thoại Mẹ Âu Cơ và Trăm trứng). Nhưng sách sử nào chứng thực đều ấy, ngoài quốc hiệu? Toàn thư viết: “Vua đã thôn tính được nước Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu Lạc”; “đóng đô ở Phong Khê (nay là thành Cổ Loa)” (12). Cương mục viết: “Bấy giờ nhà vua đã lấy được Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê” và chua thêm: “Phong Khê: Bây giờ là thành Cổ Loa, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh” (13). Ngoài chính sử, không những các đền thờ An Dương vương ở nhiều địa phương từ xa xưa đến nay còn được tôn tạo, hương khói, mà chính di tích thành Cổ Loa vẫn còn tồn tại với những mũi tên đồng của nỏ thần được giới khảo cổ khai quật, xác định niên đại (bằng phương pháp C14) và trưng bày.
Như thế, vấn đề đã rất rõ ràng. Tuy nhiên, trong thập niên sáu mươi của thế kỉ trước (XX), cuộc tranh luận về vấn đề An Dương vương lại nổ ra. Đào Duy Anh (14) dựa  vào Giao Châu vực ngoại kí, Hoa dương quốc chí (q. 3), và ức thuyết của Trần Tu Hoà trong cuốn sách của ông, Việt Nam cổ sử cập kì dân tộc văn hoá chí nghiên cứu (xuất bản ở Côn Minh, Trung Hoa, 1944) để nêu lên giả thuyết của mình. Theo Đào Duy Anh, ở cuốn thứ nhất, tác giả (?) cho rằng An Dương vương là Thục Vương tử. Cuốn thứ hai, viết về vua nước Thục ở Tứ Xuyên (Trung Hoa) mất nước, bị giết chết bởi quân Tần, cả tướng phó, thái tử Thục cũng thế (chấm dứt 12 đời vua Thục). Cuốn thứ ba, của Trần Tu Hoà, không viết khác hơn, nhưng có thêm chi tiết: “con cháu vua Thục có lẽ đã phải hướng về nam mà phát triển vào miền khí hậu ôn hoà, sản vật giàu thịnh, rồi cuối cùng chiếm được nước Văn Lang” (14). Đào Duy Anh tán thành ức thuyết của Trần Tu Hoà, đồng thời chứng minh thêm bằng cách dựa vào một truyền thuyết thơ lưu hành trong nhân tộc Tày, trong đó có nhân vật Thục Phán. Ông lược thuật: “Ở phía nam Trung Quốc, đầu sông Tả Giang, về gần nước Văn Lang, có bộ Nam Cương hùng cứ một phương. Bộ này do Thục Chế An Trị vương đứng đầu, đóng đô ở Nam Bình (cước chú: Theo ‘Địa danh đại từ điển Trung Quốc’, châu Nam Bình hiện nay ở trong nước ta)” (14); “Thục Chế làm vua 60 năm, thọ 95 tuổi. Con là Thục Phán mới lên 10 tuổi” (14). Và xác định: “Do truyền thuyết trên ấy, chúng ta có thể thấy rằng bộ Nam Cương do Thục Phán làm vua là tương đương với miền Cao Bằng từ Bảo Lạc lấn sang cả một phần phủ Thái Bình tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc. Nếu thế thì có thể nói rằng con cháu vua nước Thục mà Thục Phán là đại biểu cuối cùng đã từ miền Tứ Xuyên và Vân Nam vào nước Nam Cương của truyền thuyết theo đường sông Lô, sông Gầm, rồi tràn sang miền thượng lưu sông Cầu và sông Hữu Giang” (14). Còn vấn đề ngôn ngữ, huyết thống nhân tộc, vốn là mấu chốt nhất? Đào Duy Anh viết: Những người con cháu nước Thục ấy cũng là người Việt tộc mà sử sách xưa gọi là Quỳ Việt. Với cái đại thế phân bố và di động của những nhóm Việt tộc từ lưu vực sông Dương Tử về nam thì rất có khả năng rằng những nhóm Việt tộc ở miền Vân Nam Quảng Tây, đặc biệt là nhóm Tây Âu ở lưu vực sông Tây Giang vốn có quan hệ xa gần với nhau. Như thế thì những người con cháu nước Thục đó khi đến miền Tả Giang và Hữu Giang tất gặp ở đó những người Tây Âu mà ngôn ngữ và văn hoá không phải xa lạ với họ. […] Miền nam sông Tả Giang và lưu vực sông Hữu Giang cùng với miền thượng lưu các sông Lô, sông Gầm, sông Cầu là địa bàn sinh tụ của những bộ lạc Tây Âu họp thành bộ lạc Nam Cương mà Thục Phán là tù trưởng tối cao…” (14).
Về Hùng vương và nước Văn Lang, Đào Duy Anh viết: “Còn miền trung lưu và hạ lưu sông Hồng từ Yên Bái, miền hạ lưu các sông Lô, sông Cầu, miền lưu vực sông Đáy và lưu vực sông Thái Bình, miền trung lưu và hạ lưu sông Mã và sông Lam cho đến Hoành Sơn, đều là địa bàn sinh tụ của bộ lạc liên hiệp Lạc Việt mà quân trưởng tối cao được truyền thuyết gọi là Hùng vương” (14). Và sự sáp nhập Văn Lang vào Tây Âu (Tây Vu, Âu Việt) cũng diễn ra bằng sự chiến thắng của Thục Phán. Ông kết luận, cả truyền thuyết nhân tộc Tày ngày nay lẫn truyền thuyết của cộng đồng dân tộc Việt Nam đều nhất trí như thế (14).
Thật ra, hiện nay đang còn tồn tại nhiều ức đoán và giả thuyết tuy tương đồng về kết luận nhưng vẫn khác về sự thể với Đào Duy Anh, tất nhiên lại càng đối nghịch hẳn với cách gọi của Phan Bội Châu là “giặc Thục”.
GS. Nguyễn Tài Cẩn là một nhà ngôn ngữ học uy tín, có nhiều công trình nghiên cứu rất có giá trị. Ông đưa ra một giả thuyết về cuộc chiến thắng của bộ tộc có gốc tích Việt Chứt ở Tây Bắc Việt đối với bộ tộc khác (Thái Kadai) trên cơ sở nghiên cứu lịch sử ngữ âm tiếng Việt, để lập nên nước Âu Lạc (15).
“Địa bàn cư trú ban đầu của cư dân nói tiếng Proto Việt Chứt là vùng kéo dài từ khu vực miền núi Hà Tĩnh – Quảng Bình – Quảng Trị sang đến Trung Lào” (15); “Rồi từ đây họ lại tản dần ra, chủ yếu là đi ra hướng bắc, men theo các vùng thượng du…” (15); “Cố nhiên, lúc ban đầu, khi mới du cư ra miền Bắc, cư dân Proto Việt Chứt vẫn chủ yếu sống ở miền núi. Cứ liệu ‘Lĩnh nam chích quái’ còn phản ánh rõ điều đó. Ở truyền thuyết họ Hồng Bàng, ngoài việc nói đến chuyện 50 người con theo mẹ ở lại vùng núi, lập nước Văn Lang và đóng đô ở địa bàn rừng đồi trung du Phong Châu, lại còn nhiều chi tiết miêu tả cụ thể đời sống cư dân hồi đó…” (15). Như vậy, trái ngược với hướng di dân Lạc Việt từ lưu vực phía nam sông Dương Tử, cụ thể nhất là từ Phúc Kiến (Trung Hoa) sang, theo nhiều nguồn tư liệu xưa nay! GS. Nguyễn Tài Cẩn còn dựa vào bản thần tích, “chuyện một vua Hùng từ miền Trung ra, kết hôn với một người con gái họ Ma mà Bùi Văn Nguyên có hồi đã giới thiệu” (15). Và từ vùng đất Tổ đó, sau khi đã hoà huyết, hoà nhập ngôn ngữ, sau khi đã làm quen với trồng trọt, chăn nuôi, canh tác lúa nước, “thì có một bộ phận cư dân Việt Chứt phía Bắc rời bỏ vùng đồi núi để toả về hướng đồng bằng, sinh sôi phát triển mạnh ở vùng châu thổ sông Hồng. Sự mở rộng địa bàn này được phản ảnh trong sử sách qua việc Văn Lang trở thành Âu Lạc, qua việc Phong Châu nhường bước cho Cổ Loa. Về mặt ngôn ngữ, may mắn cũng có cứ liệu hé cho chúng ta thấy cái nguồn gốc chung của cư dân Việt Chứt ở vùng đồi núi miền ngược và cư dân Việt Chứt ở đồng bằng Bắc bộ đó” (15). Vẫn theo GS. Nguyễn Tài Cẩn, “đó là điều tạo tiền đề cho việc hình thành cái nôi của vùng Kinh sau này” (15). Tất nhiên, để tiếp nhận giả thuyết này, phải hiểu thêm về quá trình hình thành vùng châu thổ sông Hồng về mặt tự nhiên (lưu lượng phù sa bồi đắp) và về mặt nhân tạo (sự khai hoang, san lấp ao hồ, đầm phá; hệ thống đê điều, chống lũ, lấn biển). Quá trình ấy đi đôi với quá trình người Việt Chứt từ miền núi tiến xuống đồng bằng sông Hồng như GS. Nguyễn Tài Cẩn đã trình bày trong cuốn sách, cụ thể là ở những đoạn trích bên trên (16).
Sở dĩ tôi phải trích dẫn dài dòng như vậy là để làm sáng tỏ ý tưởng rất cần thiết đối với vấn đề gốc gác huyết thống, ngữ ngôn của An Dương vương Thục Phán, mặc dù GS. Nguyễn Tài Cẩn không nêu đích danh: “Sự mở rộng địa bàn này được phản ảnh trong sử sách qua việc Văn Lang trở thành Âu Lạc, qua việc Phong Châu nhường bước cho Cổ Loa” (15).
Hầu như Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh không chú ý và tìm hiểu sâu về khía cạnh ngôn ngữ khi xác định nguồn gốc dân tộc của Thục Phán. Còn sự kiến giải của GS. Nguyễn Tài Cẩn, ít ra về khía cạnh này, ông đã làm sáng tỏ. Nhà ngôn ngữ học đã xác định: “Ở địa bàn Đông Nam Á hiện có những ngôn ngữ thuộc nhiều họ khác (như họ Thái – Kadai, họ Hán – Tạng, họ Nam đảo, họ  Ấn – Âu) nhưng đó đều là những ngôn ngữ mới di chuyển đến về sau. Có thể nói, ở địa bàn này, họ Nam Á mới chính là họ ngôn ngữ bản địa, tồn tại lâu đời nhất” (17). Tất nhiên, theo ông (và tư liệu ông sử dụng): cũng có loại ngôn ngữ cùng họ Nam Á ở Đông Ấn Độ, Nam Trung Quốc (Vân Nam), đặc biệt là ngôn ngữ Lai mới được phát hiện gần đây ở Quý Châu (có thể thuộc tiểu chi Việt Chứt hay gần Việt Chứt) (17); nhưng chắc chắn các nhân tộc Tày, Nùng hiện nay ở Tây Bắc Việt Nam đều thuộc họ ngôn ngữ Thái – Kadai. Đó là những nhân tộc từ nơi xa (tuy không xa xăm lắm) di dân đến, và diễn ra cuộc tiếp xúc với cư dân từ Trung di cư ra Bắc vốn thuộc họ ngôn ngữ Proto Việt Chứt. Xin trích dẫn cụ thể: “Bộ phận cư dân Proto Việt Chứt du cư ra Bắc lại phải có những mối quan hệ tiếp xúc mới, mà trước tiên là tiếp xúc với những cư dân nói ngôn ngữ thuộc họ Thái – Kadai (như tổ tiên của người Tày, người Nùng v.v…)” (18).
Tuy vậy, GS. Trần Quốc Vượng, một nhà khảo cổ học, với cái nhìn địa – văn hoá, lại khẳng định: “Nhưng rồi ông Lê Sơn đã phát hiện và kể lại truyền thuyết ‘Cẩu chúa chèng vua’ ở Cao Bằng, trong đó vua Thục Phán và vị vua cha tiền nhiệm Thục Chế là người Âu Việt Tày cổ ở ngay Cao Bằng. Phát hiện vốn văn học quý giá này khiến ta nhớ lại lời suy đoán của các vị sử quan triều Nguyễn cho là cái nước Thục của An Dương vương không thể ở miền Tứ Xuyên – Ba Thục mà chắc hẳn ở một nơi đâu đó trong miền đông [tây? – ct.] bắc nước ta hiện nay thôi”; “Tôi đã điều tra tại chỗ về huyền tích này ở Cao Bằng năm 1976, và gần đây nhà Thái học Cầm Cường lại phát hiện được một dị bản của huyền tích này ở người Thái Tây Bắc thì thấy rõ cái cốt lõi huyền tích Tày – Thái này là có thực. Từ Đào Duy Anh đến thế hệ chúng tôi đều khẳng định thành phần tộc người và văn hoá Tày cổ trong cấu trúc cư dân – văn hoá Việt cổ – Âu Lạc. Cao Bằng với các mỏ đồng – thiếc, theo tôi đóng vai trò cực kì quan trọng trong thời đại văn hoá – văn minh Phùng Nguyên – Đông Sơn” (19).
Có điều, ai cũng biết rằng việc thiên đô từ Phong Châu (Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) về Cổ Loa (Đông Anh, thủ đô Hà Nội) là một cuộc hoà nhập của trung du với đồng bằng châu thổ, mà đồng bằng châu thổ Bắc bộ là nơi sinh tụ của người Việt cổ (người Việt – Kinh) chứ không phải là địa bàn của người Tày cổ. Do đó, nếu An Dương vương không phải là người Việt cổ hay người Việt cổ đã Tày cổ hoá thì sẽ không có sự tiến về đồng bằng Bắc bộ đó.
Từ những lĩnh vực nghiên cứu khác nhau (sử học, khảo cổ học; địa lí học; ngôn ngữ học), chúng ta có thể tự rút ra kết luận về gốc tích nhà Thục (An Dương vương).
Sử trung đại, cận đại và hiện đại vốn khá rõ ràng với vô số chứng tích, tư liệu đương thời. Nhưng khác với sử thành văn được ghi chép tức thời ấy, phần dã sử, huyền sử, truyền thuyết lịch sử vốn được bao phủ nhiều lớp sương mù của tư duy thần thoại cổ sơ, mặc dù vẫn có cốt lõi sự thật lịch sử. Sương mù huyền sử bao phủ nhiều lớp cũng phải tan đi. Sự thật lịch sử cổ sơ được mã hoá bằng những hình tượng ẩn dụ phải được giải mã. Vả lại, thư tịch cổ, di tích tín ngưỡng, khảo cổ, nghiên cứu ngôn ngữ học lịch sử, mặc dù có chỗ khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về chi tiết của sự thể, nhưng nhìn chung không ai có thể gọi An Dương vương Thục Phán là “giặc Thục”.  
Có một điều rất trái khoáy là Phan Bội Châu lại không gọi Triệu Đà (Vũ vương) là giặc xâm lược, mà vẫn gọi là Triệu Vũ với hàm ý tôn trọng, xếp nhà Triệu vào hạng chính thống trong lịch sử Việt Nam, trong khi Toàn thư, Cương mục và sử sách Trung Hoa đều ghi rất rõ: Triệu Đà đích thực là người Hán, làm quan cho nhà Tần thời Tần Thuỷ hoàng, vâng lệnh Tần, trực tiếp giương cờ nhà Tần xâm lược nước ta; và sau khi Tần Thuỷ hoàng chết, Triệu Đà đã thực hiện ý đồ cát cứ, xâm lược Âu Lạc để sáp nhập vào Nam Hải thành nước Nam Việt, rồi tự xưng đế, nhưng lại thần phục nhà Hán (Trung Hoa).
Thế mà…
Xin trích dẫn lại và cũng chỉ bàn trong giới hạn bốn chữ: “giặc Thục”, “Triệu Vũ”: “Nước ta, mọi việc từ thời giặc Thục trở về trước không thể kê cứu rõ. Còn kể từ thời Triệu Vũ về sau…” (20).
Nhưng ở một chương khác sau đó, Phan Bội Châu viết: “Từ khi Thục An Dương vương (-257) vào làm vua nước ta, đã mở đường cho nước ngoài đến cướp chủ quyền nước ta. Kế đến Triệu Uý Đà (-179) người Chân Định nhà Hán luôn kiêm cả đất nước ta. Người nước ta ngu dại không biết, cam tâm cúi đầu theo mà tôn là đế, là vương” (20).
Đó là nguyên văn của Phan Bội Châu. Biết thế về Triệu Đà, sao Phan Bội Châu không gọi hẳn Triệu Đà là giặc Triệu, giặc Đà – một tên giặc đích thực! Và thật ra, trong văn cảnh cụ thể (đoạn trích ở cước chú (20) ), Phan Bội Châu đã sử dụng từ giặc để chỉ kẻ đã chia đất, chia dân, chia quyền cho bọn giặc ngoại xâm mà thôi. An Dương vương đã chia đất, chia dân, chia quyền cho Triệu Đà nên bị Phan Bội Châu gọi là giặc Thục.
Còn vấn đề quan trọng, An Dương vương là ai, gốc tích thế nào, ta đã rõ, ở mức độ khả quan nhất. Tuy vậy, cố nhiên là không thể so sánh mức độ xác thực về tư liệu, về sự thật lịch sử của sử cổ đại (dã sử, huyền sử) với sử trung đại, cận đại và hiện đại (Toàn thư; Cương mục; Đại Nam thực lục tiền biên, chính biên…). Và từ đó, ta có thể trả lời câu hỏi: An Dương vương là kẻ thù dân tộc (“giặc Thục”) hay là anh hùng bi tráng của dân tộc Việt Nam chúng ta?
Một đoạn thơ trong bài Tâm sự của Tố Hữu hầu như không một học sinh phổ thông trung học nào lại không biết:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc [TXA. ing. & iđ.]
Nên [đến?] nỗi cơ đồ đắm biển sâu.

4
Tuy thế, ta vẫn chưa thể trả lời thật rốt ráo và đầy sức thuyết phục nếu không tìm hiểu nguyên nhân nảy sinh cuộc chiến tranh mà Thục Phán tiến hành, tấn công vào đất nước Lạc Việt của vua Hùng và hệ quả của nó. Đó là chiến tranh thôn tính, sáp nhập (Âu Việt + Lạc Việt) mặc dù khởi đầu là bởi lòng uất hận truyền kiếp do bị chối từ lời cầu hôn như Toàn thưCương mục đã ghi. Nguyên nhân ấy thực chất là tầm thường, khởi từ lòng thù hận, lại cộng thêm tham vọng bành trướng, chiếm hữu.
Thế thì, cho dù như đã khẳng định, Thục Phán là người Việt Chứt hoặc Việt Chứt đã Tày cổ hoá (thậm chí là Quỳ Việt thuộc đại gia đình Bách Việt đã Việt Chứt hoá, Tày cổ hoá), Thục Phán cũng đáng bị chê trách.
Chỉ có thể trả lời: Chiến tranh giữa các bộ tộc hậu kì công xã nguyên thuỷ hay giữa các quốc gia phong kiến sơ khai để tiến tới sự sáp nhập, hình thành một quốc gia phong kiến phát triển vững mạnh là một tất yếu lịch sử. Không thể cứ mãi là tình trạng bầy đàn, thị tộc, hôn nhân đồng huyết (mặc dù phong tục nhuộm răng ăn trầu và sự tích Trầu cau tuyệt vời tốt đẹp đã có từ thời vua Hùng). Phải có một số lượng cư dân nhất định, một diện tích lãnh thổ nhất định, một chính phủ nhất thống nhất định mới có thể lập quốc (lập nước) và vệ quốc (giữ nước). Tất nhiên mọi thứ đều có cái ngưỡng của nó, theo quy luật “lượng đổi, ắt chất đổi”. Nếu vượt quá ngưỡng ấy, thì chiến tranh để sáp nhập, để đủ điều kiện lập quốc (dựng nước) và vệ quốc (giữ nước) trở thành chiến tranh bành trướng, bá quyền, chiến tranh đế quốc chủ nghĩa. Tất nhiên, nói như thế cũng phải nhấn mạnh: phải xét từng trường hợp trong điều kiện lịch sử – cụ thể.
Cho nên, dẫu xuất phát từ lòng thù hận bị từ chối lời cầu hôn, từ tham vọng thôn tính, chiếm hữu, cuộc chiến tranh Thục Phán tiến hành, về mặt khách quan, vẫn là cuộc chiến tranh có ý nghĩa, tác dụng tích cực: Hoà nhập tuyệt đối về huyết thống, lãnh thổ để trở thành một nước Âu Lạc nhất thống. Về ngữ ngôn, tôi thiên về ý kiến, từ một cội nguồn ngôn ngữ Việt Chứt, họ Nam Á, sau một quá trình bị chi biệt hoá (Âu Việt - Lạc Việt, tức là Tiên - Rồng), trở lại duy nhất hoá ở mức độ cao hơn (với sự tôn trọng âm sắc địa phương).
Nhà yêu nước Phan Bội Châu mặc dù có sai lầm về kiến thức sử học cụ thể (mấy ai tránh khỏi [!]) hoặc bị ảnh hưởng, bị chi phối bởi quan điểm thân Hán, Đại Hán chủ nghĩa, nhưng cụ Phan vẫn thấy rõ chân lí lịch sử khái quát, thể hiện ở nhận định cụ thể này: “Các triều Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê đều có thay họ đổi dòng. Nhà này mất thì nhà kia lên. Đó gọi là nhà. […] Còn như […] Nguyễn Quang Trung đế là Huệ đối với Nguyễn và Lê là có tội, nhưng đối với nước ta đều là những người đại hiếu tử, là bậc Thượng đẳng công thần” (21). Hoàng Trọng Mậu riêng ở chỗ này lại phê vào cuốn sử của Phan Bội Châu rất xác đáng: “Có tội đối với một nhà, mà lại có công đối với nước. Lời bàn thiên cổ thật là thoả đáng!” (21).
Trong trường hợp An Dương vương, ta có thể vừa vận dụng đồng thời vừa phản bác nhận thức của Phan Bội Châu, rằng: An Dương vương Thục Phán tuy có tội với riêng hoàng tộc Hùng vương, nhưng lại có công với đất nước, nhân dân Âu Lạc (Việt Nam), trong điều kiện lịch sử – cụ thể cách đây khoảng 2.200 năm. Các sử gia Toàn thư, Cương mục, chừng như vô hình trung nhưng thật sự có ý thức sâu sắc, họ đều chép sử, bình luận sử theo tiêu chí ấy (21), tuy vẫn còn khập khiễng ở chỗ này, chỗ khác.
Tp. HCM., khởi thảo vào buổi chiều ngày mười lăm tháng sáu, hai không không tư (hai mươi tám tháng tư, Giáp thân, năm thứ tư công nguyên Hoà Bình); viết xong lúc mười giờ bốn mươi ba phút, ngày 17. 06. HB4 (30. 04 Giáp thân HB4)

Cước chú của bài An Dương vương, “giặc Thục” hay anh hùng bi tráng?:
(*) Xin xem cước chú (20). TXA. in đậm (iđ).
(1) Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 2003, tr. 186 – 187 (NK. [ngoại kỉ], q. I, tờ 10b – 11b).
(2) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 176, 177, 179 (NK., q. I, tờ 4a, 5a, 6a). TXA. chua thêm (ct.).
(3) Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là Cương mục), tiền biên và chính biên, bản dịch (2 tập), tập 1, Nxb. Giáo Dục, 1998, tr. 78, 79 (Tb.I, 7 – 8).
(4) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 23 (Tng. 5). TXA. in đậm (iđ.).
(5) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 30 (Dch. II, 10).
(6) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 34 – 35 (Phl. 2 – 3).
(7) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 179 [NK., q. I, tờ 5b].
(8) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 150 (Tl. [tổng luận], tờ 3b – 4a). TXA. iđ..
(9) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 184 [NK., q. I, tờ 8b]. Xin xem thêm cước chú 3 về sự rắc rối địa danh và địa giới Tượng Quận của dịch giả Ngô Đức Thọ, sđd., tr. 183.
(10) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 81 (Tb. I, 11).
(11) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 74 (Tb. I, 4), tr. 79 (Tb. I, 8). TXA. iđ. & ct.. Trong cuốn Việt Nam sử lược (1921), [Nxb. Tân Việt tái bản, in lần thứ 7, 1964], Trần Trọng Kim cũng đã xác định không khác với Quốc sử quán triều Nguyễn (1856 – 1884). Ông đặt nguyên một đề mục, “Gốc tích nhà Thục”, trình bày, và kết luận: “Chắc hẳn nhà Thục tức là một họ nào độc lập gần ở nước Văn Lang, chứ không phải là nhà Thục bên Tàu. Sách ‘Khâm định Việt sử’ [Cương mục – TXA. ct.] cũng bàn như thế”. Nhiều ý kiến hiện nay: một nước Thục ở vùng Tây Bắc (Cao Bằng hiện nay, và vùng giáp giới Cao Bằng, hiện nay thuộc Trung Quốc).
Người viết bài này (TXA.) cho rằng, ở trường hợp này có yếu tố ý niệm hoá địa danh, từ một địa danh với vùng địa lí (địa bàn) có thật, dần dần chuyển hoá thành ý niệm – biểu tượng trong tâm thức; đại để cũng như thành ngữ “tết Maroc” có nghĩa là “viển vông; xa xôi; không bao giờ đến ngày ấy”, hoặc như khi người Nam bộ gặp người giọng nói với âm sắc Bắc Trung bộ thì cứ bảo đó là “người Huế”, mặc dù họ thừa biết Huế chỉ là địa danh thường gọi để chỉ một cố đô, vốn là kinh đô dưới triều Nguyễn, nay là thành phố tỉnh lị của tỉnh Thừa Thiên, hoặc như trường hợp dùng hai chữ “bọn Tây”, dần dần đến cuối thế kỉ XX, người ở nước ta hiểu đó là từ ngữ chỉ người Pháp, chứ không phải chỉ người Tây Ban Nha như lúc ban đầu hay người một nước nào đó ở châu Âu (Phương Tây). Về địa danh Ba Thục cũng vậy, đó chỉ là ý niệm địa lí – biểu tượng hoá. Hơn nữa, Toàn thư (sđd., tr. 175 [NK., q. 1, 3a]) viết về cương vực nước Văn Lang: “đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam”; Lê Tung cũng viết trong bài “Việt giám thông khảo tổng luận…” (Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 150 [Tl., 3b – 4a]): “An Dương vương, phía tây thì dời sang Ba Thục, phía nam thì diệt vua Hùng Vương, đóng đô ở Loa Thành, giữ nước Âu Lạc”. Như thế, trong ý niệm – biểu tượng địa lí, Ba Thục là vùng đất sát liền, cận kề biên giới nước ta thời Hùng vương, chứ không phải chính xác là nước Ba Thục ở Tứ Xuyên (tại Trung Hoa) đã bị nhà Tần tiêu diệt từ năm còn tồn tại nhà Chu (316 tr. c. ng.), và An Dương vương cũng không phải là hậu duệ Thục vương nước Ba Thục ở Tứ Xuyên (Trung Hoa), mà chính là người Việt Chứt đã Tày cổ hoá.
Ngoài ra, trong sử cổ nước ta (Đại Nam thục lục chính biên chẳng hạn) cũng thường dùng từ “thục man”, để phân biệt với “hoang man”, “cống man”; “thục man” có khi được viết hoa chữ Thục ở bản dịch chữ quốc ngữ abc. Mặc dù mặt chữ Hán của hai chữ Thục trong Thục Phán Thục man khác nhau, nhưng hiện tượng sai biệt hoá, chuyển hoá từ chữ này sang chữ khác trong khi sử dụng là không có gì lạ (như chữ Chỉ trong từ Giao Chỉ có ít ra là hai mặt chữ Hán khác nhau, nghĩa khác nhau, chẳng hạn). Theo đó, Thục Phán chính là vua của xứ Thục Man hoặc nước Thục Man, thuộc vùng Tây Bắc nước ta.
(12) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 179 [NK., q. I, tờ 5b – 6a].
(13) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 79 (Tb. I, 8). Dịch giả Ngô Đức Thọ cước chú: “Hiện nay, Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh, TP. Hà Nội”.
(14) Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Thuận Hoá, 1997, tr. 24 – 27. TXA. iđ.. Chú thích (14) chung cho các đoạn trích dẫn tiếp theo từ cuốn sách này. Lập luận của Đào Duy Anh cũng vẫn như thế ở cuốn sách khác của ông: Lịch sử Việt Nam, Nxb. Văn hoá – Thông tin tái bản, 2002, tr. 54 – 56. Tuy nhiên, Đào Duy Anh lại suy đoán, giả định sai lạc với chính sử, khi đưa ra khả năng thứ hai: Thục Phán chỉ lật đổ Hùng vương sau khi đã thắng giặc Tần (Trung Hoa)!
(15) GS. Nguyễn Tài Cẩn, Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo), Nxb. Giáo Dục, 1995, tr. 319 – 324. TXA. iđ.. Về thuật ngữ Thái – Kađai, theo GS. Trần Quốc Vượng: “Những cư dân Tày – Thái cổ vừa gần gũi Nam Á vừa gần gũi Nam Đảo mà có học giả (Karl Paul Benedict) gọi là Kadai hay là Nam Thái (austro – Thái) có lẽ là chủ nhân chính của văn hoá Phùng Nguyên” (Việt Nam, cái nhìn địa – văn hoá, Nxb. Văn hoá dân tộc & Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật xb., 1998, tr. 50). 
(16) GS. Trần Quốc Vượng, Việt Nam, cái nhìn địa – văn hoá, Nxb. VHDT. & Tạp chí VHNT. xb., 1998, tr. 44 – 45, 49: “Sau thời Plêitoxen cách đây khoảng 10.000 – 7.000 năm, băng hà Wiirm cuối cùng đã tan, dồn nước về các đại dương, gây nên hiện tượng biển tiến đầu hay / và giữa thời toàn tân Hôlôxen. […] Nó đánh dấu một sự ‘hoang vắng’ của trung du trong suốt thời gian từ khoảng trên dưới 4.000 năm cách ngày nay… Đến một thời đổi khác của trung du, diễn ra trong khoảng trên dưới 4.000 năm cách ngày nay… Sau 4.000 năm là thời Hôlôxen muộn (4.000 – 2.000 năm), đây là thời biển lùi. Đồng bằng châu thổ Bắc Bộ thứ hai được thành lập, cố nhiên là cũng phủ đầy rừng. Con người hậu kì Đá Mới, từ miền núi cao Vân Quý – Quảng Tây tiến xuống, từ miền hải đảo biển khơi ngược sông tiến vào, từ dải Trường Sơn dọc Trung Bộ Việt Nam – Trung Hạ Lào tiến ra… hội tụ ngày một đông đảo ở vùng trung du giáp đồng bằng. Đấy là sự hội tụ con người và văn hoá lần thứ hai ở miền trung du Vĩnh Phú – Sơn Tây. Ta có thể gọi đó là sự hội tụ Phùng Nguyên” (sđd., tr. 44 – 45); “Người ta đã đề cập đến những nhân tố cư dân – ngôn ngữ – văn hoá: Môn Khơme cổ, Tày – Thái cổ, Mã Lai cổ và thậm chí cả Tạng – Miến cổ trong sự sinh thành phức hệ cư dân – ngôn ngữ – văn hoá Việt cổ bắt đầu từ Đất Tổ trung du” (sđd., tr. 49).
(17) GS. Nguyễn Tài Cẩn, sđd., tr. 10; và ở tr. 316. TXA. iđ.: “Căn cứ những thành tựu mới nhất công bố trong khoảng vài mươi năm lại đây, hiện nay có thể kết luận: tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc nhóm Việt Mường, tiểu chi Việt Chứt, nằm trong khối Việt Katu thuộc khu vực phía Đông của ngành Môn Khmer, họ Nam Á [TXA. in nghiêng (ing.) & iđ.]”; “tiểu chi Việt Chứt (Việt Mường + Pọng Chứt = Việt Chứt)”.
(18) GS. Nguyễn Tài Cẩn, sđd., tr. 321.
(19) GS. Trần Quốc Vượng, sđd., tr. 17 – 19, 47, 104 –105, 118 – 122, 131, 142 – 143… TXA. iđ.. GS. Trần Quốc Vượng còn chú thích thêm: Nguyễn Siêu, tác giả “Phương Đình dư địa chí” (bản dịch Ngô Mạnh Nghinh, Sài Gòn, 1960), tỏ ý không công nhận An Dương vương là con vua nước Ba Thục.
(20) Phan Bội Châu, Những tác phẩm Phan Bội Châu, tập I [gồm Việt Nam vong quốc sử & Việt Nam quốc sử khảo], Văn Tạo chủ biên và các dịch giả, Nxb. KHXH., 1982, tr. 200 – 201, 210. Xin trích một đoạn Việt Nam quốc sử khảo để xem nhận định của Phan Bội Châu đúng hay sai, và đúng, sai ở mức độ nào: “… Sở dĩ gọi là nước vì có chủ quyền, có nhân dân, có đất đai. Nếu ba thứ ấy còn thì nước còn là nước, ba thứ ấy mất thì không phải là nước nữa. Lấy một trong ba thứ ấy đem cho người ngoài thì gọi là giặc của nước; lấy cả ba thứ ấy đem tất cho người ngoài thì là đầu sỏ của giặc nước.
[…]
Nước ta, mọi việc từ thời giặc Thục trở về trước không thể kê cứu rõ. Còn kể từ thời Triệu Vũ về sau, ta kể được ba người giặc của nước:
Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần và để cầu nhà Minh sắc phong cho, y đã cắt 59 thôn của châu Lộc Bình cho lệ thuộc vào phủ Tư Minh của nhà Minh.
Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, sợ nhà Minh hỏi tội, đã lấy hai châu Thạch Tích, Niêm Lãng và bốn động Cổ Sâm, Tư Lẫm, Kim Lặc, Liễu Cát hiến cho nhà Minh. Bản án kết tội bọn ấy nên ghi là: “Lấy đất đai của nước, nhân dân của nước, tặng người ngoài, tội đáng chém!”. Chúng nó lấy lời gì để biện bạch được?
Còn một người nữa thì là một mẹ một con thuộc bản triều [Từ Dũ – TXA. ct.]. Vì ham sống yên phận đã đem một lúc cả ba thứ nói trên dâng cho lũ giặc. Thật là một tên giặc đầu sỏ lớn của nước ta” (+). (sđd., tr. 200 – 201)
Tất nhiên không phải Phan Bội Châu viết điều gì cũng đúng và càng không phải cụ viết gì cũng sai. Đó là chưa nói đến phương pháp viết sử với các thao tác cần thiết, nhất là thao tác trích dẫn tư liệu gốc.
(+) Đó là nhận thức của Phan Bội Châu vào năm 1908 (khi xuất bản “Việt Nam quốc sử khảo”), tức là sau 04 năm, kể từ năm xuất bản “Việt Nam vong quốc sử”. Phan Bội Châu viết như trên là do sự phản hồi của công luận bấy giờ. Như thế, Phan Bội Châu đã phủ nhận “Việt Nam vong quốc sử” về mục “nguyên nhân mất nước”. Rất tiếc là mặc dù có phần nào gần với sự thật lịch sử hơn, nhưng nhận thức vào năm 1908 của Phan Bội Châu cũng còn thiên kiến và cực đoan. Xin xem thêm những cuốn sách Trần Xuân An viết về đề tài này: 1) Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, trọn bộ 4 tập, 2002 – 2003. 2) Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường – “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp” (từ Đại Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần I, 2001. 3) Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê bình sử học, 2002 & 2003…
(21) Phan Bội Châu, sđd., tr. 200 – 201. Phan Bội Châu cũng như nhiều nhà sử khác chỉ thấy Quang Trung Nguyễn Huệ có tài thao lược, đánh tan 20 vạn quân Thanh nhân cớ nhà Lê cầu viện mà sang cướp nước ta, nhưng không thấy rằng, việc quân Thanh kéo sang cướp nước ấy là hệ quả của cuộc binh phạt, đánh dẹp cả chúa Nguyễn (Đàng Trong) lẫn vua Lê – chúa Trịnh (Đàng Ngoài), do chính ba anh em Tây Sơn tiến hành, trong đó Nguyễn Huệ nổi bật lên, gánh vác sứ mệnh lịch sử. Thử truy lại nguyên nhân, nếu không có phong trào Tây Sơn, làm gì có việc quân Thanh mượn cớ kéo sang! Do đó, Nguyễn Huệ có trách nhiệm phải giải quyết. Và Nguyễn Huệ đã giải quyết thành công, lập nên chiến tích. Theo tôi, lẽ ra, chính xác hơn, là nhận định rằng, Nguyễn Huệ đáp ứng được yêu cầu khách quan của lịch sử nước ta vào các thế kỉ XVI – XVIII là phải thống nhất đất nước, thoát khỏi hoạ phân liệt giữa Đàng Trong – Đàng Ngoài, và giải quyết tốt hệ quả… Nói khái quát hơn, nhân vật lịch sử nào, lực lượng lịch sử nào đáp ứng được yêu cầu lịch sử bức thiết, chính đáng phát sinh từ hiện thực khách quan của xã hội (của nhân dân), của Đất nước, chính nghĩa thuộc về họ; và mặc dù có tham vọng cá nhân nhưng tham vọng cá nhân ấy phù hợp với yêu cầu lịch sử thì họ vẫn xứng đáng được ghi công. Cố nhiên, nếu tài cao, đức trọng, toàn tâm toàn ý và hành động hoàn toàn vì nhân dân, vì Đất nước, vì nhân loại, vì chính nghĩa, giải quyết tốt những hệ quả đau thương, bi tráng do tình huống lịch sử tạo ra, lại càng vĩ đại.

Nhấn mạnh kết luận:

1
Về nguồn gốc An Dương vương Thục Phán:

Trong ý niệm – biểu tượng địa lí, Ba Thục là vùng đất sát liền, cận kề biên giới nước ta thời Hùng vương, chứ không phải chính xác là nước Ba Thục ở Tứ Xuyên (tại Trung Hoa) đã bị nhà Tần tiêu diệt từ năm còn tồn tại nhà Chu (316 tr. c. ng.), và An Dương vương cũng không phải là hậu duệ Thục vương nước Ba Thục ở Tứ Xuyên (Trung Hoa), mà chính là người Việt Chứt đã Tày cổ hoá.

2
Chiến tranh bộ lạc thị tộc và sự hình thành đất nước – dân tộc trong thời cổ đại:
Chiến tranh giữa các bộ tộc hậu kì công xã nguyên thuỷ hay giữa các quốc gia phong kiến sơ khai để tiến tới sự sáp nhập, hình thành một quốc gia phong kiến phát triển vững mạnh là một tất yếu lịch sử. Không thể cứ mãi là tình trạng bầy đàn, thị tộc, hôn nhân đồng huyết (mặc dù phong tục nhuộm răng ăn trầu và sự tích Trầu cau tuyệt vời tốt đẹp đã có từ thời vua Hùng). Phải có một số lượng cư dân nhất định, một diện tích lãnh thổ nhất định, một chính phủ nhất thống nhất định mới có thể lập quốc (lập nước) và vệ quốc (giữ nước). Tất nhiên mọi thứ đều có cái ngưỡng của nó, theo quy luật “lượng đổi, ắt chất đổi”. Nếu vượt quá ngưỡng ấy, thì chiến tranh để sáp nhập, để đủ điều kiện lập quốc (dựng nước) và vệ quốc (giữ nước) trở thành chiến tranh bành trướng, bá quyền, chiến tranh đế quốc chủ nghĩa. Tất nhiên, nói như thế cũng phải nhấn mạnh: phải xét từng trường hợp trong điều kiện lịch sử – cụ thể.

Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2014

Hiệu quả bất ngờ từ bài thuốc rẻ tiền, dễ kiếm giúp khắc chế tiểu đường của lương y nức tiếng Sài thành


GiadinhNet - Hiện nay, tiểu đường được xem là một trong những chứng bệnh nan y, rất khó để chữa trị dứt điểm. Y học hiện đại ví căn bệnh này là “kẻ giết người thầm lặng” bởi những biểu hiện của nó thường không rõ ràng. Thế nhưng, khi được phát hiện thì bệnh thường đã biến chứng ở mức độ nghiêm trọng.

Lương y Hứa Hiền Quang. Ảnh TG
Trước nguy cơ đó, cả Đông và Tây y đã có nhiều nỗ lực trong việc tiêu trừ, đẩy lùi căn bệnh này. Tại TP. HCM, một vị lương y đã nghiên cứu và tìm ra bài thuốc khắc chế bệnh tiểu đường với những nguyên liệu vô cùng đơn giản. Đó là dùng quả cau cảnh và trái cóc dại sắc thành nước, dùng chữa cho bệnh nhân tiểu đường khá hiệu quả.

Nhân duyên thừa hưởng bài thuốc lạ

Người chúng tôi đang nói đến là lương y Hứa Hiền Quang, thầy thuốc Đông y xuất thân trong một gia đình Hoa kiều có truyền thống lâu đời làm thuốc. Đã nhiều năm nay, phòng khám Đông y của lương y Quang (ngay dưới chân cầu Ông Lãnh, Q.1, TP. HCM) là địa chỉ tin cậy của không ít bệnh nhân từ khắp nơi tìm về. Khi chúng tôi đến, dù đã chiều muộn nhưng bệnh nhân vẫn còn rất đông. Dáng vẻ tất bật, thi thoảng ông lại quay qua chỗ chúng tôi ngồi nhắc khéo, xin thông cảm vì phải đợi lâu. Qua chia sẻ, chúng tôi được biết, Lương y Quang sinh ra tại Sài Gòn. Cha ông là một thầy thuốc nổi tiếng. Ngay từ nhỏ, ông đã được cha truyền lại cho những bài thuốc Nam quý giá. Vì lẽ đó, ông sớm thông thạo về tác dụng của các loại thảo dược tự nhiên. Khi lớn lên, ông quyết theo nghề thuốc của gia đình và trở thành niềm tự hào của dòng họ. Lương y Quang cho biết: “Những phương thuốc hiện nay tôi đang dùng phần lớn được kế nghiệp từ cha. Ông cũng chính là người chỉ dạy cho tôi cái tâm của một thầy thuốc phải hết lòng với bệnh nhân. Không những thế, tôi còn học được ở ông tính độc lập, ham học hỏi trong công việc”.
Quả cau tươi – thành phần không thể thiếu trong bài thuốc khắc chế tiểu đường. Ảnh TG

Ngoài ra, vị lương y này còn có sở thích sưu tầm các bài thuốc Nam từ trong dân gian và các loại sách Đông y cổ. Lương y Quang lấy từ trong ngăn tủ ra một cuốn sách y học cổ bằng chữ Hán. Ông biết khá rành rọt về loại cổ tự này nên không khó khăn để tìm hiểu những phương thuốc của người Trung Hoa và sau đó kết hợp với cách điều trị của người Việt. Điều đặc biệt, những bài thuốc ông sử dụng cho bệnh nhân không chỉ đạt hiệu quả cao mà giá thành cũng rất thấp. “Nhờ cuốn sách y học cổ này mà tôi tìm ra được bài thuốc chữa trị căn bệnh “khó nói” cho chị em phụ nữ. Đó là căn bệnh huyết trắng, một trong những nguy cơ hàng đầu dẫn đến ung thư cổ tử cung sau này”, lương y Quang cho biết.

Đối với chứng bệnh “khó nói” của phụ nữ, ông cho biết, các thành phần của phương thuốc gồm: Đẳng sâm, phục linh, bạch truật và cam thảo kết hợp với vỏ quýt. Phương thức sử dụng thuốc khá đơn giản, chỉ cần đem sắc lấy nước uống theo công thức: Sắc ba chén nước lấy một chén, lần sắc tiếp theo chỉ đổ vào hai chén cạn còn 8 phần. Tác dụng sẽ giúp bổ khí kiện tỳ, tức phục hồi khí từ bên trong cơ thể, tăng cường sức đề kháng. Người bệnh kiên trì uống thuốc thì bệnh sẽ thuyên giảm và dứt hẳn tùy vào cơ địa của từng người và tình trạng của bệnh.

Tuy nhiên, lương y Hứa Hiền Quang được nhiều người biết đến với biệt tài chữa bệnh tiểu đường, căn bệnh được xem là nỗi nhức nhối thời đại. Điều ngạc nhiên, căn bệnh phức tạp này có thể được khắc chế bằng bài thuốc cực kì đơn giản. Nguyên liệu là hai loại trái dân dã của người Việt mà nơi nào cũng có, đó là cau cảnh và trái cóc. Đối với ông, sở hữu được bài thuốc này cũng là một cái duyên, không phải ai làm thuốc cũng có may mắn như vậy. Lương y Quang kể, cách đây đúng ba năm, trong một lần đi chợ ở gần nhà, ông vô tình gặp lại một người phụ nữ đã từng quen trên chùa trước đó. Sau khi trò chuyện, cảm động trước tấm lòng hành thiện của lương y Quang, người phụ nữ đã chia sẻ bài thuốc quý. Ông Quang nói: “Chỉ gặp tôi vỏn vẹn 2 lần nhưng không hiểu sao, bà ấy lại “chỉ điểm” rồi mách nước cho bài thuốc hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường bằng hai loại trái cau cảnh và cóc. Ban đầu, tôi cũng bán tính bán nghi nhưng đến khi trực tiếp sử dụng, nhận thấy sự chuyển biến tích cực của người bệnh, tôi mới dám tin”.
Bài thuốc đơn giản
Giấy chứng nhận chẩn đoán bệnh theo Y học cổ truyển trao cho lương y Hứa Hiền Quang. Ảnh TG

Theo như lời của lương y Quang, bài thuốc chữa căn bệnh “thời đại” được người phụ nữ kia truyền dạy có nói tường tận: Sắc thuốc cho người bệnh uống phải theo nguyên tắc “nam thất nữ cửu”, tức mỗi thứ 7 trái cho nam và 9 trái cho nữ (theo quan niệm nam 7 vía, nữ 9 vía). Uống ngày 3 lần hoặc uống thay nước hàng ngày như trà. “Ban đầu, tôi chưa tin nhưng khi áp dụng cho bệnh nhân đã từng chữa trị ở nhiều nơi không khỏi thì chỉ sau một thời gian ngắn, bệnh tình đã tiến triển rất khả quan. Đồng thời, tôi hướng dẫn người bệnh không nên ăn những thức ăn có nhiều chất đạm, đường. Ngoài ra, người bệnh cần tập thể dục thường xuyên để tiết mồ hôi giúp điều hòa cơ thể. Cứ mỗi đợt uống 20 ngày, sau đó đi xét nghiệm và chỉ sau hơn một tháng, căn bệnh đái tháo đường đã thuyên giảm hẳn. Tôi cũng áp dụng cho bệnh nhân uống thêm trái dừa cạn sau khi đã ổn định để đảm bảo chắc chắn rằng, các chất độc được thải hết ra ngoài”, lương y Quang cho biết.

Hơn 40 năm hành nghề thuốc, lương y Hứa Hiền Quang quan niệm, nếu người thầy thuốc sở hữu được bài thuốc quý mà không chia sẻ cho mọi người, chỉ muốn giữ khư khư làm của riêng thì không đúng với cái tâm của nghề. Bởi vậy, không chỉ riêng đối với bài thuốc chữa đái tháo đường mà tất cả các phương thuốc hiệu quả, ông đều sẵn lòng chia sẻ cho những ai tìm đến phòng khám Tân Tế Dân. “Bài thuốc chữa bệnh tiểu đường tôi may mắn được người ta truyền lại thì nay tôi cũng chia sẻ cho những ai có nhu cầu. Các dược liệu cũng dễ tìm và ít tốn kém… Bởi vậy, tôi hy vọng nhiều người biết đến phương thuốc dân gian nhưng vô cùng quý báu này”, lương y Quang tâm sự.

Lương y Quang nói thêm, nếu như sau 20 ngày uống liên tục nước từ trái cóc và trái cau cảnh thì bệnh nhân nên đi xét nghiệm. Nếu kết quả cho thấy nồng độ đường máu đã trở lại bình thường thì có thể giảm số lần uống. Để có kết quả tốt nhất, người bệnh cần có chế độ ăn kiêng dành riêng cho người bị bệnh đái tháo đường.

Phòng khám Tân Tế Dân ngày càng được nhiều người biết đến nhưng ngày ngày, lương y Quang vẫn không ngừng học hỏi, tìm tòi những bài thuốc mới trong dân gian. Tính đến nay, ông không thể nhớ rõ mình đã chữa khỏi bệnh đái tháo đường từ trái cau cảnh và trái cóc cho biết bao nhiêu người bệnh. Với tấm lòng của một lương y, lại được sinh ra trong đói khổ, ông hiểu hơn ai hết cảnh mắc bệnh nhưng không có điều kiện chữa trị. Bởi vậy, bệnh nhân tìm đến ông nếu có hoàn cảnh khó khăn, éo le (người già neo đơn), ông đều chữa hoàn toàn miễn phí mà không hề đòi hỏi một chút tư lợi nào cho bản thân. Với đóng góp vì sức khỏe cộng đồng, mới đây nhất, lương y Hứa Hiền Quang đã được Hội Đông y Việt Nam trao tặng tấm bằng khen kỷ niệm chương vì sự nghiệp đông y. “Theo cha đi khám bệnh từ nhỏ, tôi được tận mắt chứng kiến cuộc sống của nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội, giàu nghèo đều có cả. Chính cái tâm, cái tài của cha là kim chỉ nam cho tôi đi đúng con đường người lương y như hôm nay”, lương y Hứa Hiền Quang nói.
Qua nghiên cứu, lương y Đinh Công Bảy – nguyên Chủ tịch Hội Đông y TP. HCM nhận thấy trong trái cau có nhiều thành phần chất như: alcahoit, tanin, arecolin có tính hạ khí, hành thủy thông đại tiểu trường. Dùng loại quả này có thể chữa được các chứng như: Trương tích, chướng khí, sát trùng, tạ hạ. Hạt cau có vị đắng chát, có tác dụng tiêu tích, lợi thủy, thông khí, diệt khuẩn, trị tả lỵ, sốt rét, phù thũng. Vỏ cau trị thủy thũng, lợi tiểu. Trái cóc lại là một loại quả có vị chua và ngọt rất dễ ăn. Trong loại trái này chứa nhiều vitamin C, có tác dụng làm giảm đường huyết trong máu đối với người mắc chứng tiểu đường, đặc biệt là bệnh nhân bị tiểu đường tuýp 2 (bệnh lý mà khi tuyến tụy không sản xuất đủ insulin hoặc khi cơ thể tự kháng với insulin được sản xuất). Hơn nữa, đây còn là loại quả có giá trị nhiều về mặt dinh dưỡng, phần thịt của quả cóc gồm các chất: lipid, acid, tro, glucid, protein, cellulose.
Khôi Nguyên

Cách trị hôi nách bằng phèn chua hiệu quả

Hôi nách khiến bạn thiếu tự tin, gây nhiều phiền toái trong công việc, cuộc sống của bạn. Bạn có biết phèn chua có nhiều công dụng trong điều trị và khử mùi hôi nách?. Hãy áp dụng những cách trị hôi nách bằng phèn chua dưới đây sẽ giúp bạn thổi bay bệnh hôi nách, loại bỏ mùi mồ hôi nách một cách nhanh nhất.

chua hoi nach bang phen chua
Chữa hôi nách bằng phèn chua tiện dụng và tiết kiệm chi phí
Đối với một số người tuyến mồ hôi lớn hoạt động quá mạnh, tăng tiết. Cộng với việc tuyến mồ hôi này nằm ở vùng kín như nách, vùng sinh dục, là những nơi vi khuẩn, nấm thường hay xuất hiện. Do đó khi mồ hôi tiết ra các vi khuẩn hoạt động trên bề mặt da phân hủy các Acid béo tạo ra mùi rất khó ngửi. Đây chính là nguyên nhân gây nên bệnh hôi nách.
Nếu bạn bị bệnh hôi nách nhẹ chỉ cần giữ vệ sinh vùng nách, tắm rửa thường xuyên và áp dụng một số cách đơn giản từ mẹo dân gian bằng các sản phẩm tự nhiên như: chanh tươi, gừng, lá trầu không, lá khổ qua ( mướp đắng ),…Bạn có thể tham khảo thêm bài viết : Top 5 cách tự nhiên chữa hôi nách hiệu quả để hiểu rõ hơn về các phương pháp này. Hay bạn có thể sử dụng cách chữa hôi nách bằng phèn là một trong những biện pháp tự nhiên giúp giảm bớt mùi hôi nách hiệu quả.
Ngoài công dụng chữa bệnh cao huyết áp, ho ra máu, sốt rét, viêm tai giữa mãn tính…Phèn chua còn có tác dụng chữa mồ hôi nách, khử mùi hôi nách giúp bạn thoải mái và tự tin hơn trong giao tiếp hàng ngày.
cách trị hôi nách bằng phèn chua
Phèn chua có nhiều công dụng tốt cho sức khỏe đồng thời giúp trị hôi nách hiệu quả
Theo Đông y, phèn chua còn gọi là bạch phàn là chất có màu trắng, vị chua chát, hình thành do quá trình nướng ( phàn = nướng ). Theo kỹ thuật, phèn chua (còn gọi là alumen) thuộc loại phèn nhôm có thành phần chính là Nhôm Sunfat Al2(SO4)3. Alumen có tính hàn, công hiệu giả độc, sát trùng, làm hết ngứa, trừ nấm…
Các cách sử dụng phèn chua chữa hôi nách:
+ Cách 1: Chưng khoảng 50g phèn chua (phèn cục bình thường) đã giã nhỏ và cho vào nồi nung, tốt nhất là nung bằng nồi đất. Chưng nóng cho phèn rút hết nước, trở thành phèn xốp nở phồng ra gấp 2-3 lần chúng ta gọi là phèn phi hay bột phèn chua. Sau khi tắm rửa sạch sẽ bạn chà xát phèn chua lên nách và chân . Tuần bôi 3-4 lần.
Lưu ý: Phải chưng phèn chua thật kỹ thì phèn mới mịn. Khuyến khích cho phèn chua vào bọc vải và làm ấm lên mỗi khi chà xát vào nách nhằm làm co bớt lỗ chân lông và hút mồ hôi, mùi hôi ở nách.
cách trị hôi nách bằng phèn chua
Phèn chua giã nhỏ trước khi nung
+ Cách 2: Dùng 15 gr phèn chua, phụ tử, thanh mộc hương, vôi sống mỗi vị 30 gr. Tất cả nghiền thành bột mịn, trộn với phấn thơm xoa vào hai bên nách.
+ Cách 3: Dùng nhũ hương, thanh mộc hương, đinh hương, phòng hương mỗi vị 60 gr, vôi sống 500 gr, phèn chua 120 gr, dương khởi thạch, quất bì mỗi vị 90 gr. Tất cả nghiền bột, lấy một lượng đủ dùng rải lên tấm vải, buộc cố định vào hai bên nách.
+ Cách 4: Nung phèn chua cho mất nước, giã mịn ra, trộn với 50% bột Talc, thoa vào nơi thường tiết ra mùi khó chịu (nách, các nếp gấp ở ngực…), hoặc mài phèn chua với nước hay cho phèn chua vào rượu thêm ít dầu thơm chà vào các vùng dễ đổ mồ hôi trước khi ra đường.
+ Cách 5: Khi tắm có thể thêm vào nước tắm một cục phèn chua có tác dụng khử mùi mồ hôi rất hiệu quả
Cách 6: Cho 50gr phèn chua vào trứng, dùng lửa nhỏ hơ đến khi phèn chảy nước, đợi phèn cứng lại, sau đó giã nhuyễn thành bột, ngày bôi 2 lần có tác dụng giảm nhẹ hôi nách, kiên trì điều trị sẽ có khỏi hoàn toàn.
Cách chữa hôi nách bằng phèn chua có thể chỉ phù hợp với một số trường hợp bị hôi nách khá nhẹ. Nếu bệnh hôi nách gây ảnh hưởng nhiều tới công việc và cuộc sống của bạn thì bạn nên áp dụng cách chữa hôi nách triệt để, vĩnh viễn tại đây.

Thứ Sáu, 11 tháng 7, 2014

Tên lửa Scud của Việt Nam: Lữ đoàn Tên lửa 490



Lãnh đạo Binh chủng Pháo binh kiểm tra công tác SSCĐ và chụp ảnh với cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn
Trong vài năm qua, có tin cho rằng Việt Nam đã có được một số tên lửa đất đối đất Scud. Ví dụ như, tài liệu Cán cân Quân sự Năm 2012, của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) đã liệt kê mục sau đây “SSM Scud-B/Scud-C (báo cáo)” ở phần tên lửa Việt Nam.
Hồi tháng 5, Việt Nam dỡ bỏ bức màn bí mật về khả năng tên lửa Scud của mình khi tạp chí quân sự có tên Tạp chí Quốc phòng Toàn dân đã in một trang duy nhất về hình ảnh Lữ đoàn Tên lửa 490 (xem bức hình bên phải và các bức ảnh bên dưới).

Tháng sau, báo Đất Việt, một tờ báo tiếng Việt (số ra ngày 11 tháng 6 năm 2012) đã đăng bức ảnh giống như hình phía trên bên phải và xác định tên lửa này là R-17E/9K72, hay tên lửa SS-1 Scud B. Tờ báo này cũng đưa tin Viện Công nghệ, Quân chủng Phòng không-Không quân, đã sản xuất thành công một trong những thành phần quan trọng cho các nhiên liệu tên lửa lỏng được sử dụng bởi các tên lửa Scud. Bảo Đất Việt đã xác định đơn vị sản xuất là Lữ đoàn B90 .
Trong thập niên 1980, tin cho biết rằng Liên Xô cung cấp cho Việt Nam một số tên lửa Scud B (xem tin trong khung bên dưới). Năm 1998-1999, Việt Nam có được một nguồn cung cấp tên lửa Scud C từ Bắc Triều Tiên. Trung tâm Tình báo Không quân Mỹ ước tính, Việt Nam “có chưa tới 50 tên lửa” Scud B.
Lực lượng chiến lược
Có lẽ vào thập niên 1980, đôi khi Việt Nam sở hữu một số lượng nhỏ tên lửa đất đối đất Scud B SS-1 do Nga sản xuất (tầm hoạt động 300 km và lượng chất nổ 985 kg). Nỗ lực của Việt Nam để hiện đại hóa lực lượng quân sự và phát triển một [lực lượng] ngăn chặn cách đáng tin cậy đối với Quân đội Trung Quốc (PLA) đã đưa Việt Nam đi tới một loạt các thỏa thuận với Bắc Triều Tiên. Tháng 5 năm 1994, một đoàn đại biểu quân sự Việt Nam đã đến thăm Bình Nhưỡng để thảo luận sơ bộ về khả năng Bắc Triều Tiên bán vũ khí cho Việt Nam. Trong tháng sau đó (ND: tháng 6-1994), Bộ trưởng Quốc phòng Đoàn Khuê dẫn một đoàn đại biểu quân sự cấp cao tới Bình Nhưỡng trong chuyến thăm chính thức theo lời mời của Nguyên soái O Chin-u, Bộ trưởng Lực lượng Vũ trang của CHDCND Triều Tiên. Tháng 11 năm 1994, Phó Nguyên soái Choe Kwang, ủy viên Bộ Chính trị Đảng Lao Động Triều Tiên và quyền bộ trưởng lực lượng vũ trang và Tham mưu Trưởng Quân đội Nhân dân Triều Tiên, đã dẫn đầu một phái đoàn quân sự đến thăm như một khách mời, để đáp lại lời mời của tướng Đoàn Khuê, Bộ trưởng Quốc phòng. Ngay sau chuyến thăm đó, một nguồn tin ngoại giao ở Bắc Kinh tiết lộ rằng, Việt Nam và Bắc Triều Tiên đã “nhắm tới một thỏa thuận về trao đổi thương mại, theo đó Bắc Triều Tiên cung cấp cho Việt Nam các bộ phận vũ khí và đạn dược, đổi lại các tàu Việt Nam đưa gạo tới Triều Tiên”.
Tháng 12 năm 1996, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, tướng Nguyễn Thới Bưng đã đến thăm Bắc Triều Tiên và ký một thỏa thuận quốc phòng trị giá 100 triệu đô la. Thanh toán bằng các khoản trao đổi gạo của Việt Nam. Việc mua bán tên lửa đạn đạo tầm ngắn Scud, theo tin tức, đã được thảo luận vào thời điểm này. Tháng 4 năm 1999, tin tức cho biết Việt Nam đã mua một số tên lửa đất đối đất Scud C (SSMs) của Bắc Triều Tiên. Scud C có thể chứa lượng chất nổ 770 kg, tầm hoạt động 550 km. Tháng 2 năm 2009, tin tức nói rằng Hà Nội và Bình Nhưỡng đang thảo luận về việc Bắc Triều Tiên hỗ trợ để nâng cấp tên lửa Scud SSMS cho Việt Nam.
Nguồn: Carlyle A. Thayer, Quân đội Nhân dân Việt Nam: Phát triển và hiện đại hóa. Loạt bài giảng về Lực lượng Vũ trang. Tài liệu số 4, Bandar Seri Begawan: Học viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc phòng, Vua Haji Hassanal Bolkiah, năm 2009.
Trùng hợp với những phát triển này, báo United Daily News đưa tin hôm 2 tháng 7, Trung Quốc đã thiết lập một lữ đoàn tên lửa mới, Lữ đoàn Tên lửa đạn đạo 827, ở thành phố Thiều Quan, tỉnh Quảng Đông. Báo Đài Loan đưa tin với suy đoán rằng, Lữ đoàn Tên lửa này sẽ được trang bị tên lửa đạn đạo chống hạm Đông Phong DF-21 và Đông Phong 16, loại lửa đạn đạo mới hơn, có tầm hoạt động xa hơn. DF-21 có tầm hoạt động từ 2.000-3.000 km và tin tức cho biết, khả năng tấn công các mục tiêu di chuyển trên biển với độ chính xác cao. DF-16 có tầm hoạt động 1.200 km và do đó có khả năng bắn trúng Hà Nội.
Tên lửa Scud của Việt Nam có khả năng bắn trúng các mục tiêu ở đảo Hải Nam, gồm căn cứ hải quân Du Lâm, gần Tam Á, và các thành phố nằm trong bán kính 500 km ở miền nam Trung Quốc như Nam Ninh.
Nguồn: Thayer Consultancy
Tác giả: Carl Thayer
Người dịch: Dương Lệ Chi
Nguồn: Anh Ba Sàm


Tên lửa đạn đạo R-17 (Scud B) trên bệ phóng di động 9P117 của Lữ đoàn 490 (Binh chủng Pháo binh). Nguồn: Quân đội Nhân dân Theo tài liệu “Scud Ballistic Miss and Launch System 1955-2005” (công ty xuất bản sách Osprey Publishing có trụ sở tại Oxford, Anh), năm 1979 Liên Xô đã viện trợ cho Việt Nam 12 xe phóng cùng số lượng nhỏ tên lửa Scud biên chế đủ cho một lữ đoàn.

Còn theo cơ sở dữ liệu của Viện Nghiên cứu Hòa bình và Quốc tế Stockhom (SIPRI), năm 1981 Việt Nam nhận được 4 bệ phóng di động cùng 25 quả đạn Scud. Các năm tiếp đó không có số liệu.

Lưu ý về cái tên Scud, đây là định danh của NATO dành cho hai dòng tên lửa đạn đạo R-11 và R-17 của Liên Xô (R-11 được NATO định danh là Scud A còn R-17 được gọi là Scud B). Trong đó, loại R-11 ra đời vào đầu những năm 1950, còn R-17 là thế hệ cải tiến thay thế R-11 ra đời năm 1958.

Loại tên lửa đạn đạo mà Việt Nam nhận viện trợ là loại R-17 (Scud B). Nhưng R-17 chỉ là một thành phần trong cả hệ thống tên lửa mà nước ta nhận. Tên đầy đủ của hệ thống này là “hệ thống tên lửa đạn đạo chiến dịch – chiến thuật 9K72 Elbrus”. Đây là tên rất ít khi được biết đến trên các phương tiện truyền thông phương Tây, hầu như người ta chỉ gọi chung nó là Scud.

Tên lửa đạn đạo R-17 (Scud B) trên bệ phóng di động 9P117 của Lữ đoàn 490 (Binh chủng Pháo binh). Nguồn: Quân đội Nhân dân

Tên lửa R-17 (Scud B) có chiều dài 11,25m, đường kính thân 0,88m, trọng lượng phóng 5,9 tấn. Tên lửa trang bị động cơ nhiên liệu lỏng Isayev RD-21 (thành phần nhiên liệu gồm chất cháy TM-185, chất oxy hóa AK-27I và nhiên liệu phóng TG-02).

Hệ thống dẫn đường sử dụng 3 con quay hồi chuyển cho phép đạt độ chính xác tương đối, bán kính lệch mục tiêu 450m (phương Tây cho rằng con số vào khoảng 900m).

R-17 thiết kế mang đầu đạn thuốc nổ thường nặng 1 tấn hoặc đầu đạn hạt nhân 5-70 kiloton, đầu đạn hóa học. Với đầu đạn thuốc nổ, tốc độ va chạm 1,4km/s sẽ tạo ra hố sâu 1,5-4m, rộng 12m.

Tên lửa có khả năng đạt tầm bắn tới 270km. Các biến thể cải tiến sau này có thể tăng tầm lên 300km hoặc 500-600km.

Dù loại tên lửa dùng động cơ nhiên liệu lỏng nhưng qua cải tiến, việc bảo quản nhiên liệu trong điều kiện chiến trường kéo dài tới 6 tháng, ở điều kiện bình thường tới 19 năm.

Đạn tên lửa R-17 (Scud B) được đặt trên bệ phóng di động 9P117 Uragan dựa trên khung gầm cơ sở xe vận tải hạng nặng MAZ-543. Khi phóng, tên lửa sẽ được khung nâng đạn dựng thẳng đứng và bắn đi (trước đó tên lửa cần khoảng thời gian để nạp nhiên liệu phóng, nạp thông số mục tiêu). 


Hiện nay, theo một số hình ảnh của báo Quân đội Nhân dân, R-17 (Scud B) cùng xe phóng được biên chế trong Lữ đoàn 490 (Binh chủng Pháo binh). Mặc dù đã qua hàng chục năm sử dụng, nhưng tên lửa vẫn được bảo quản tốt, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu.

Thứ Tư, 9 tháng 7, 2014

Israel – Một đất nước thần kỳ



Israel – Một đất nước thần kỳ

Featured Image: Halfway Anywhere
Một ngày thôi, chúng ta hãy tạm quên đi khung trời tự do thiên đường của Mỹ và hãy thôi thèm thuồng sự hào nhoáng ngọt ngào từ các bộ phim Hàn.
Một ngày thôi, chúng ta hãy thôi ca tụng nếp sống văn hóa của Nhật và quên luôn gã khổng lồ đáng ghét Trung Quốc đang lặn ngụp ngoài biển đông.
Một ngày thôi, hãy quên những đất nước đang sôi sục say men chiến thắng mùa world cup và thậm chí hãy tạm lơ luôn cả đất nước Việt Nam máu thịt mà ta đang ngự trị.
Chỉ một ngày thôi, hãy nhìn sang một đất nước khác, một đất nước nghe tên đã thấy nhàm chán và xa xôi, một đất nước chỉ có chiến tranh và sa mạc nóng bỏng trải dài tít tắp. Một đất nước nhỏ bé và chẳng có mấy tin tức hay ho về nó trên báo đài nhưng phần lớn sự kiện quan trọng trên thế giới đều có liên quan đến những con người xuất thân từ đó. Đó là đất nước Israel, nơi con người đã chiến thắng thiên nhiên và theo tôi, chiến thắng cả thế giới về tính cần cù, bền bỉ, vượt khó, khả năng sáng tạo và không bao giờ dừng lại.
Những thông tin sau đều là tin tổng hợp nên chắc nhiều bạn biết rồi nhưng tôi tin cũng rất nhiều người chưa hề được biết, và chắc chắn, sẽ có điều khiến bạn phải ngạc nhiên về đất nước này.

Một nền nông nghiệp thần kỳ

Israel có diện tích rất nhỏ, trên 20.000 km2, tức là chỉ lớn hơn tỉnh Nghệ An của Việt Nam chút ít. Tuy nhiên Israel lại được mệnh danh là “thung lũng silicon” của thế giới trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghệ nước. Chỉ với 2,5% dân số làm nông nghiệp nhưng mỗi năm Israel xuất khẩu chừng 3 tỷ USD nông sản, là một trong những nước xuất khẩu hàng đầu thế giới. Ít ai biết rằng, những sản phẩm rau quả từ Arava – một trong những nơi khô cằn nhất thế giới – lại chiếm tới trên 60% tổng sản lượng xuất khẩu rau của Israel và 10% tổng sản lượng hoa xuất khẩu.
Thung lũng Arava. Địa danh khá lạ tai đối với khách du lịch, nhưng lại là cái tên rất tự hào của mọi người dân Israel vì tại đây, phép màu đã làm nở hoa giữa sa mạc – những phép màu thực sự của khoa học công nghệ. Là phần khô hạn nhất của hoang mạc Negev với lượng mưa bình quân chỉ từ 20-50mm mỗi năm (Việt Nam là 1500mm/năm). Độ ẩm cực thấp và sự chênh lệch nhiệt độ khiến đá cũng phải vỡ vụn mà khắp hoang mạc phủ một lớp đá vụn và cát đặc thù sa mạc. Arava là một trong những vùng đất khô cằn nhất thế giới. Cảm giác đầu tiên khi đặt chân đến vùng đất này, là miền Trung Việt Nam với những dải đất bạc màu và đồi cát, hóa ra vẫn còn là miền đất trù phú!
Ấy thế mà nơi đây mọc nên những nông trại trồng đủ loại cây từ rau củ, cây ăn trái đến hoa hòe. Tất cả đều xanh tốt và cho sản lượng không nơi nào sánh được. Không từ nào có thể diễn tả đúng hơn về một “vườn địa đàng” đã được tạo ra giữa thung lũng Arava, đúng như Tổng thống Israel Shimon Peres đã thốt lên khi đến thăm nơi này năm 2009: “Hãy đến và thấy chính con người cũng có thể tạo nên vườn địa đàng! (Garden of Eden)”
Ông Ezra Ravins, người đứng đầu cộng đồng hơn 3.000 người tại khu vực này cho biết, từ một nhóm thanh niên Israel “bồng bột”, mang theo bánh mì và nước quyết định định cư tại thung lũng Arava năm 1959, cả một cộng đồng đã được xây dựng với nhiều thế hệ, tạo thành một trong những trung tâm nông nghiệp lớn nhất cả nước. “Khi những người đầu tiên đến đây, quyết định đó được xem là “điên rồ” nhất và chính những nhà khoa học cũng khẳng định con người không thể sống được ở vùng đất này.”
Ấy vậy mà họ đã làm được, không chỉ làm được, mà còn tuyệt đối thành công, trồng trọt mà không cần đất và không cần nhiều nước, thoạt nghe cứ như chuyện của thế giới nào đó không phải trái đất này. Nhưng không, đó là sự thật, đó là Israel!

Thần kỳ cách họ trữ nước và sử dụng nước

Thiên đường nông nghiệp tại Arava gắn liền với một công trình xứng đáng ghi nhận như một kỳ công mà con người đã tạo ra giữa xa mạc: Bể chứa nước khổng lồ mang tên Shizaf. Với khả năng dự trữ 150.000 m3 nước sạch, bể chứa này có nhiệm vụ cấp nước sạch cho sinh hoạt và tưới tiêu. Bể được thiết kế để tích trữ nước từ giếng khoan vào thời điểm nhu cầu giảm.
Bể có đáy chìm 3,5 m dưới mặt sa mạc và chia thành nhiều lớp khác nhau, tạo nên bề mặt nổi 10m. Một khối lượng công việc khổng lồ được thực hiện để đào bỏ 320.000 m3 đá và đất sa mạc. Độ sâu của giếng khoan lên tới 1,5 km mới tới túi nước ngầm. Kỹ thuật thiết kế đặc biệt của bể chống lại chế độ bốc hơi tự nhiên cũng như thu gom nước một cách hoàn hảo.
Điều kiện tự nhiên của Israel đặc biệt khô hạn với lượng mưa rất thấp và thay đổi theo từng mùa: Phía Bắc quốc gia này lượng mưa khoảng 800 mm/năm và ở phía Nam chỉ khoảng 50 mm/năm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 11 đến khoảng tháng 3 năm sau và lượng bốc hơi tự nhiên lên tới 1.900-2.600 mm/năm. Không có gì ngạc nhiên khi nước ngọt ở Israel được coi như vàng trắng và được quản lý một cách chặt chẽ hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới. Chính phủ xây dựng hẳn một bộ luật để đo lường mức tiêu thụ nước, kiểm soát việc khai thác nước ngầm, ngăn chặn ô nhiễm nước. Công nghệ xử lý nước của Israel thuộc hàng hiện đại nhất thế giới với tỉ lệ tái chế tới 75%.
Dọc ngang Israel, ở những thành phố lớn hay những vùng nông thôn, hoang mạc, hệ thống tưới nước hoàn hảo đến mức gần như không bỏ phí một giọt nước nào. Đại diện công ty công nghệ tưới NaanDanJain cho biết 75% hệ thống nước nông nghiệp của Israel áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, 25% còn lại tưới nước bằng ống dẫn và vòi tưới các loại phun mưa nhỏ, không hề có chế độ tưới ngập nước. Israel cũng là quốc gia phát minh ra hệ thống tưới nước nhỏ giọt điều khiển bằng máy tính, kết hợp với các thiết bị kiểm soát độ ẩm trong đất, có thể tính toán chính xác nhu cầu nước và tiết kiệm tối đa.
Tại công ty Netafim, người viết được chứng kiến những thành quả đáng ngạc nhiên về hiệu quả của việc sử dụng công nghệ tưới nhỏ giọt của Israel trên khắp các dự án ở những vùng khô hạn trên thế giới. Hệ thống ống dẫn nước như những mao mạch dẫn tới từng gốc cây, được vận hành chính xác bằng công nghệ cao cũng như sử dụng tối ưu năng lượng mặt trời. “Đạt năng suất cao hơn với chi phí thấp hơn” (grow more with less) là khẩu hiện của Netafim và có lẽ cũng là hướng đi của phần còn lại của thế giới, khi nguồn tài nguyên nước đang ngày càng suy giảm.
Israel giải quyết được sự thiếu nước, biến nước thành tài sản, đang dẫn đầu thế giới về tái chế nước thải, hơn 70% lượng nước được tái chế, gấp 3 lần quốc gia đứng thứ hai Tây Ban Nha.

“Cây đũa thần” khoa học

Một con số dễ hình dung về năng lực của “cây đũa thần” khoa học. Năm 1950, một nông dân Israel cung cấp thực phẩm đủ cho 17 người, hiện đã là 90 người. Một hecta đất hiện cho 3 triệu bông hồng, hay 500 tấn cà chua/vụ. Một con bò cho tới 11 tấn sữa/năm – mức năng suất mà không một nước nào trên thế giới có được.
Những thực tế tại công ty NaanDanJain đã đem lại một bài học khác về sự phối hợp: nhà khoa học, nhà doanh nghiệp có sự tách biệt khó phân định với nhà nông. Đa phần các nước nhập khẩu công nghệ của NaanDanJain chỉ biết rằng đây là một trong những công ty hàng đầu Israel chuyên về giải pháp tưới, hệ thống công nghệ kiểm soát khí hậu nhà kính, mà không biết rằng chính công ty cũng đang sở hữu những đồn điền rộng lớn, nơi chính những tiến bộ khoa học của công ty được triển khai đầu tiên, nhằm đảm bảo sự thích ứng hoàn hảo nhất đối với nhu cầu của người trồng trọt.
Một trong những lợi thế của sự phối hợp giữa khoa học và nhà nông tại Israel là tính cộng đồng rất cao. Nhà khoa học rất gần gũi với đồng ruộng và nhiều trong số họ cũng chính là nông dân hoặc giữ vai trò tư vấn trực tiếp cho nông dân. Các trung tâm nông nghiệp lớn, thậm chí cả các “làng nông nghiệp” (từ địa phương là kibbutz) đều có sự xuất hiện của các phòng nghiên cứu hoặc đại diện của các viện khoa học. Những giống cây mới hay các nghiên cứu mới về hệ thống nhà kính trước hết được thí nghiệm, kế đó sẽ áp dụng thử nghiệm với một số nhỏ hộ nông dân bằng nguồn vốn hỗ trợ của hệ thống tài chính vi mô hoặc từ chính quỹ của viện thí nghiệm, trước khi triển khai thương mại đại trà.
Tại Israel phần lớn các nhà khoa học nông nghiệp làm cho chính phủ. Có tới hơn 60% các công trình nghiên cứu nông nghiệp là của Cơ quan Nghiên cứu Nông nghiệp hay trung tâm Volcani thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Israel cũng là nước có mức đầu tư cho nghiên cứu thuộc loại lớn nhất thế giới với gần 100 triệu USD mỗi năm, chiếm khoảng 3% tổng sản lượng nông nghiệp quốc gia. Nguồn lực này đến từ ngân sách và cộng động (50 triệu USD/năm), các hợp tác quốc gia song phương (12 triệu USD/năm), các tổ chức nông nghiệp cấp địa phương và quốc gia (6 triệu USD/năm) thông qua nguồn lợi từ thu hoạch cây trồng. Khu vực tư nhân cũng đóng góp khoảng 25 triệu USD hàng năm.
Nguồn lực này được cung cấp trực tiếp cho việc nghiên cứu và phát triển các sản phẩm ứng dụng và các nhà đầu tư giữ bản quyền sáng chế. Phần lớn các nghiên cứu đều do những công ty sản xuất sản phẩm đầu tư, như hệ thống tưới tiêu, phân bón, nhà kính… triển khai. Sự phối hợp giữa kinh doanh và nghiên cứu đảm bảo cho các nhà khoa học một mức ưu đãi đủ để phát huy tối đa năng lực hoạt động chuyên môn. Thậm chí các chuyện các chuyên gia nông nghiệp đi tư vấn trực tiếp cho các nông trại là điều không hiếm.

Việc chăn nuôi tại Israel:

Nuôi cá trên sa mạc
Khi đào giếng sâu gần nửa dặm, người Israel phát hiện nguồn nước ấm mặn. Một giáo sư đại học chỉ ra đây là nguồn nước hoàn hảo để nuôi cá nước ấm. Các nông trang bơm nước nóng 37 độ vào trong bể, nuôi cá thương mại. Nước chứa chất thải của cá được tưới cho rau, cây ăn quả. Nhờ vậy, nước được sử dụng tới 2 lần thay vì dùng 1 lần rồi bỏ.
Những con bò có giáo dục
AfiMilk chính là công ty đã mang lại cho Israel thương hiệu độc tôn trong ngành chăn nuôi bò sữa, đặc biệt là ở khu vực châu Á, nơi mà thói quen uống sữa đang được hình thành. Những công nghệ của AfiMilk đã và đang giúp người nông dân chăn nuôi bò sữa kiểm soát được loại sữa đang được sản xuất từ trang trại của mình; cũng như kiểm soát được liệu mỗi con bò đã có đủ dinh dưỡng không, sữa bò có đủ lượng protein tiêu chuẩn không, tình trạng sức khỏe của bò ra sao, mỗi con bò đang cần được chăm sóc thế nào… Hệ thống giám sát thời gian thực do AfiMilk sản xuất đã giúp người nông dân đảm bảo duy trì chất lượng và sản lượng, đồng thời đáp ứng những nhu cầu cơ bản của đàn bò sữa.
Ở trang trại nuôi bò sữa của Kibbutz Mashabbe Sade thuộc vùng Nagev, bò được huấn luyện rất kỹ, cứ đến giờ là tự tìm đường về trạm cho sữa, thậm chí không cần người dẫn dắt. Họ gọi những con bò này là “bò có giáo dục”.
Tiện nghi cho chó
Israel đã phát triển một loạt các sáng tạo với những sản phẩm out of the box (những sản phẩm sáng tạo không gò bó theo khuôn phép) cho những người nuôi chó trên toàn thế giới, từ DogTV (kênh truyền hình dành cho chó) đến pooper-scooper (một thiết bị mang tính cách mạng giúp bạn tự động dọn sạch phân chó – đã có trên thị trường).
Khi bạn đi ra ngoài và để chú chó của mình ở nhà một mình, chúng sẽ không còn cảm thấy chán nhờ vào kênh DogTV – kênh truyền hình dành cho những chú chó đã đạt những thành công phi thường của Israel .
Và khi bạn lái xe, một việc không ai muốn làm đó là dọn phân cho những chú chó, sẽ trở nên dễ dàng với thiết bị của Paulee CleanTec: biến chất thải thành chất không màu, không mùi, bột vô hại chỉ với một nút nhấn.

Dẫn đầu thế giới về công nghệ sạch
Họ được xếp hạng cao nhất với chỉ số 4,34, tiếp theo là Phần Lan 4,04, Mỹ 3,67, Thụy Điển 3,55 và Đan Mạch 3,45. Trong vòng 3 năm qua, Israel có 19 công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ sạch được lọt vào danh sách rút gọn của GCII. “Israel đứng đầu chỉ số năm 2014. Ngoài bản năng sinh tồn, đất nước này còn tạo ra nền văn hóa, giáo dục và những nền tảng cần thiết khác để nuôi dưỡng sự sáng tạo”, báo cáo cho biết.

Những điều hay ho về con người, tính cách, bản sắc văn hóa và nền kinh tế:

Kinh doanh từ niềm đam mê sáng tạo nên cái mới, chứ không hẳn vì tiền
TS. Ze’ev Ganor, một giảng viên cao cấp tại Viện Công nghệ Technion-Israel và đồng sáng lập của Urginea Ventures, người đã phân tích dữ liệu về các doanh nhân nối tiếp ở Israel từ năm 2005 nói rằng: Hiện tượng một doanh nhân thành lập nhiều công ty rất phổ biến ở Israel. Khoảng 10% doanh nhân Israel có ít nhất hai công ty trở lên, gấp đôi con số 5% ở Mỹ. Tương tự như vậy, có khoảng 7,5% các doanh nhân Israel khởi nghiệp từ ba công ty hoặc nhiều hơn, trong khi chỉ có 3,75% các doanh nhân Mỹ làm như vậy.
Trên sàn giao dịch chứng khoán NASDAQ, số doanh nghiệp Israel nhiều hơn cả 4 nước Nhật Hàn Trung quốc và Sing cộng lại. Không ít những ông chủ khổng lồ nhất thế giới có mặt trên đất nước này đến từ Mỹ, Ấn độ, Đức… Xuất khẩu hướng vào thị trường cao cấp và sản phẩm mà Israel thu lợi nhuận cao nhất là bán các ý tưởng, được kết hợp chặt chẽ từ hai yếu tố sáng tạo và táo bạo. Và hình như, đây chính là tinh thần Do thái.
Israel có tỷ lệ doanh nhân bình quân đầu người cao hơn bất kì một quốc gia nào khác. Vậy đâu là những yếu tố thúc đẩy sự thành công của họ?
“Tôi cho rằng giá trị chung cơ bản mà những người liên tục tạo ra các công ty khởi nghiệp nằm ở sự đam mê tạo ra giá trị mới chứ không phải đam mê kiếm tiền. Kiếm tiền chỉ là một yếu tố phụ, không phải là mục tiêu phấn đấu của những doanh nhân tiếp nối ở Israel.” GS. Amnon Shashua của Đại học Hebrew, người sáng lập ra các công ty Cognitens, OrCam và Mobileye nói.

Hay như theo cách mà ông Wurtman giải thích thêm về triết lý kinh doanh của họ: “Điều khiến bạn thích thú không phải ở việc tạo ra của cải, mà là tạo ra những cái mới.” “Đặc điểm của những doanh nhân tiếp nối là họ không bao giờ ngừng liên kết những ý tưởng mới vào doanh nghiệp mới và họ coi trọng cuộc hành trình của mình hơn là cái đích. Theo tôi, đây là một đặc điểm mang tính dân tộc, vì bản thân tôi đã luôn xem những gì tôi làm như là một phần của cuộc hành trình để phục vụ nhà nước Do Thái. Thành công, theo tôi, được đo bởi số lượng việc làm có chất lượng được tạo ra.” Wurtman khẳng định.
Chuyện nói và chuyện làm
Khi người Israel có ý tưởng, anh ta sẽ triển khai nó ngay trong tuần. Tổng thống S. Peres, người đã sang Việt Nam, nói thế này: diễn văn rất hay, nhưng anh định làm gì tiếp theo?. Tỉ phú hàng đầu Israel , ông Stef Wertheimer, lời khuyên đầu tiên với người Việt cũng là, nói ít thôi làm nhiều lên. Ông là nhà sản xuất vũ khí và chủ một khu công nghệ còn đẹp hơn bất cứ công viên giải trí nào ở Việt Nam. Điều này hơi ngược với triết lý của ta khi bắt đầu kinh doanh cần phải có kinh nghiệm. Người Israel không cần kinh nghiệm, họ cần ý tưởng nhiều hơn, và sẵn sàng thất bại để học hỏi từ thất bại đó.
Người Israel mê sáng tạo, và không sợ trí tưởng tượng. Họ biết kinh nghiệm là quý báu, nhưng kinh nghiệm dễ thành lối mòn. Họ không ngại thay đổi, luôn hướng về phía trước, không nằm im gặm nhấm thành công quá khứ. Họ biết “nỗi sợ hãi mất mát luôn lớn hơn niềm hy vọng nhận được” để bỏ đi cái cũ không còn phù hợp, kiến tạo cái mới cho hiện tại và tương lai. Trong những buổi gặp mặt cựu binh hay bạn học, họ ít hồi tưởng về quá khứ huy hoàng, mà hướng về tương lai phía trước. Những đơn vị thành công thì thuyết trình về công ty để người khác được chia sẻ kinh nghiệm. Họ xây dựng mạng luới làm ăn, kiến tạo những cơ hội kinh doanh.
Tiếp nhận sự khác biệt và đa dạng trong cộng đồng
Một trong những giá trị của Israel đó là lịch sử dân tộc. Chỉ với khoảng 8 triệu dân nhưng lại có nguồn gốc từ 70 nước trên toàn thế giới. Họ là quốc gia duy nhất thực thi luật di trú mà bất cứ người Do thái nào đặt chân lên Israel, ngay lập tức trở thành người Israel. Họ biết chiêu dụ những người Israel sống ở nước ngoài về phục vụ tổ quốc, trọng dụng họ và không bao giờ bỏ rơi họ. Israel thực sự là một đất nước đa dạng về văn hóa, sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc. Vì là nạn nhân của chủ nghĩa bài Do thái, họ thấu hiểu việc tôn trọng sự đa dạng quan trọng như thế nào. Chính vì vậy, sự khác biệt không cản trở họ, mà ngược lại là nguồn gốc của sự sáng tạo. Đây chính là cốt lõi khởi tạo mọi thành công của người Israel.

Chuyện người lãnh đạo

Quá trình tuyển chọn lãnh đạo của Israel dựa trên tài năng chứ không phải dựa trên mối quen biết hay sức mạnh tài chính. Quá trình tuyển chọn rất minh bạch và dân chủ. Cộng với văn hóa tranh luận và đặt câu hỏi “tại sao ông là sếp của tôi; tại sao tôi không phải là sếp của ông?” đầy thách thức, làm cho người sếp không đủ tài năng sẽ phải nhường chỗ cho người khác. Quá trình này giúp tìm ra được người lãnh đạo tốt nhất cho công ty, tập đoàn hay chính phủ. Khi có lãnh đạo giỏi, việc trao quyền cho cấp dưới được thực hiện dễ dàng hơn, các thông tin, ý tưởng, giải pháp được đến từ nhiều người hơn là chỉ một số người có trách nhiệm.
“Mục tiêu của nhà lãnh đạo là tối đa hóa sự chịu đựng – trong khi khuyến khích sự bất đồng chính kiến.” Là một phương châm lãnh đạo rất sâu sắc. Tinh thần này có nghĩa, lãnh đạo phải chịu được những điều “chướng tai gai mắt”, những khác biệt thậm chí bất đồng, thì nhân viên mới thỏa sức sáng tạo. Còn nhân viên, phải phát huy tính tự chủ độc lập của mình, không sợ khác biệt về nhận định hay giải pháp, vì đó chính là khởi nguồn của sáng tạo. Văn hóa này đã nuôi dưỡng tinh thần chiến đấu và hướng tới cái mới hơn, tốt hơn và hiệu quả hơn.
Ở Israel, các sinh viên đại học nói chuyện với giảng viên, nhân viên thách thức ông chủ, binh lính chất vấn sĩ quan chỉ huy, thư ký sửa lưng các bộ trưởng, đây không phải là sự cả gan, mà là điều hết sức bình thường. Ai mới tới Israel thường có cảm giác người bản xứ rất thô lỗ, thẳng thắn quá trớn. Nhưng nếu hiểu được bản chất và văn hóa của người Israel thì ta sẽ cảm thấy thoải mái, xem đây là biểu hiện của sự chân thành.
Hiện tượng cấp dưới có quyền đưa ra quyết định vượt cấp trong quân đội Israel là kết quả của nhu cầu thực tế cũng như bản chất của lực lượng này. Việc quân đội Israel có ít chỉ huy, đồng nghĩa với việc có nhiều sáng kiến hơn đến từ binh lính cấp dưới. Mức độ trao quyền hạn vượt cấp trong quân đội Israel đã làm lãnh đạo các quốc gia ngạc nhiên.
Giá trị của binh lính Israel không phụ thuộc quân hàm, mà được quyết định bởi năng lực của họ. Ở đây, bí quyết lãnh đạo là niềm tin của binh lính đối với chỉ huy của mình. Nếu không có niềm tin, binh lính sẽ không bao giờ tuân phục. Trong doanh trại quân đội Israel, các viên tướng, sĩ quan và binh lính thường ngồi quây quần bên nhau, ít kiểu cách nhưng thân thiện và bao dung hơn. Đó là tinh thần Chutpah trong quân đội. Điều này lý giải tại sao Shvat Shaket, một người đã sống nhiều năm trong quân đội, có thể giảng cho chủ tịch PayPal về sự khác nhau giữa “người tốt và kẻ xấu” trên internet. Hay nhóm kỹ sư Israel của Intel thực hiện cuộc cách mạng lật đổ kiến trúc cơ bản của sản phẩm của chính công ty mình.
Tinh thần chiến đấu của người Israel không chỉ được thể hiện trên chiến trường, bàn ngoại giao, mà còn thẫm đẫm vào công việc kinh doanh của họ. Khi bị ban lãnh đạo Intel từ chối giải pháp làm nguội con chíp, nhóm làm việc Israel không chịu lùi bước. Họ kiên trì thuyết phục, cải tiến và chứng minh viễn kiến và giải pháp của họ là đúng, tạo bước ngoặt cho Intel và thế giới khi đưa ra các sản phẩm chip mới. Trong những công ty khởi nghiệp, khi thất bại họ “thất bại có tính xây dựng” hay “thất bại thông minh”, cộng với tính khoan dung của người Israel, nên những người thất bại được trao cơ hội làm lại. Theo thống kê, những người đã thất bại lần đầu mà khởi nghiệp lại, tỉ lệ thành công của họ sẽ tăng lên 20%. Đây chính là lý do góp phần để Israel thành một quốc gia khởi nghiệp.

Và những điều lạ lùng khác nữa…

Mô hình kinh tế Kibbutz
Về kinh tế, mô hình kinh tế Kibbutz được hình thành từ những năm 1960 và tới nay vẫn còn duy trì hiệu quả. Đây là mô hình tổ chức nông-công nghiệp nông thôn độc nhất vô nhị trên thế giới chỉ có tại Israel. Hiện nay trên toàn Israel có khoảng 270 Kibbutz, trung bình mỗi Kibbutz này có trên dưới 300 xã viên hoạt động tương tự như nhau, sở hữu những cánh đồng trồng cây nông nghiệp, trại chăn nuôi gia súc, các nhà máy chế biến sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp nhẹ như sản xuất bột giạt, đồng hồ đo nước xuất khẩu, van và khớp nối ống nước… Mọi thành viên của gia đình các xã viên được cung cấp miễn phí hai bữa ăn sáng và trưa tại một bếp ăn tập thể giữa làng. Riêng bữa tối các gia đình tổ chức ăn ở nhà để cho gắn bó tình cảm giữa các thành viên trong gia đình mình.
Buổi sáng, các xã viên và trẻ em trong làng lũ lượt kéo đến các nhà ăn tập thể dùng bữa sáng. Nhà ăn được tổ chức hiện đại và sang trọng với đầy đủ các món ăn cao cấp không khác mấy so với các phòng ăn ở khách sạn 5 sao. Sau khi ăn xong, mỗi người tự mang bát đĩa, khay, thìa đến những chỗ quy định để “tổ bếp núc” rửa. Sau đó, trẻ em thì đến trường, người lớn đến nơi làm việc. Khoảng 12h30 trưa, trẻ em đi thẳng từ trường học tới nhà ăn, cùng người lớn dùng bữa trưa. Các gia đình không nhất thiết ngồi ăn cùng bàn, họ thoải mái tự chọn món mình thích và tùy chọn chỗ ngồi trong bữa ăn, không hạn chế số lượng và hoàn toàn theo nhu cầu.
Ngoài ra còn những điều cực kỳ lý thú, việc giặt giũ của mỗi gia đình được phụ trách bởi một tổ có tên “tổ giặt giũ” đảm nhiệm. Họ phân loại quần áo, dùng máy móc giặt sấy và trả về cho mỗi gia đình theo số thứ tự được đánh dấu của mỗi nhà. Các xã viên cũng không cần mua ô tô khi các Kibbutz luôn có sẵn khoảng 60 ô tô con các loại để tại bãi đậu xe có người trông coi. Ai cần đi xe chỉ việc chọn xe, đăng kí trên website và tới bãi để lấy xe chạy thoải mái. Ngoài ra, các khoản như xăng, sửa chữa và các chi phí khác hoàn toàn do Kibbutz chịu trách nhiệm. Nếu thích một loại xe nào đó khác, chỉ việc yêu cầu, Kibbutz sẽ chịu trách nhiệm đi thuê xe cho bạn, và đương nhiên, hoàn toàn miễn phí, Kibbutz sẽ thanh toán cho bạn.
Kibbutz còn xây dựng và cấp nhà miễn phí cho các gia đình xã viên. Khi cần mở rộng hoặc muốn cải tạo theo ý mình, chủ nhà trao đổi với ban quản trị, sau đó sẽ có một đội xây dựng đến thực hiện theo yêu cầu của chủ nhà, Kibbutz thanh toán chi phí toàn bộ, bao gồm cả tiền điện, nước, gas sinh hoạt trong các gia đình. Mỗi căn nhà này ở Mashabbe Sade là một biệt thự cao cấp, đầy đủ tiện nghi.
Ngày Shabbat bình yên
Chiều thứ sáu, đường phố ở Haifa vắng tanh, mọi người đều về nhà để chuẩn bị một bữa tối linh đình cho gia đình. Các cửa hàng, siêu thị, công sở đều đóng cửa, thậm chí các phương tiện giao thông công cộng cũng ngưng hoạt động. Người lần đầu đến Israel đúng những ngày này sẽ cảm thấy bất ngờ và hụt hẫng. Muốn mua sắm hay đi chơi đều phải chuẩn bị từ đầu hoặc giữa tuần. Nếu chẳng may phải đi đâu, phương tiện công cộng duy nhất là taxi với giá 5 shekel (tiền Israel, bằng khoảng 5.000 đồng VN).
Một người dân tên Roi Ariel cho biết, theo phong tục, người Israel thường ở nhà nghỉ ngơi, thư giãn, đọc sách, đi thăm người thân hoặc bạn bè, đi du lịch nhân ngày Shabbat. Cánh thanh niên tận dụng những ngày Shabbat để đi ra biển hoặc khám phá những thành phố mới. Roi Ariel đang trong thời gian quân ngũ và phục vụ trong hải quân. Tham gia quân đội cũng là cách các chàng trai, cô gái xứ sở này có được một khoản thu kha khá. Sau 3 năm tại ngũ, họ sẽ dùng số tiền tiết kiệm được để đi du lịch hoặc đăng ký học tại một trường đại học nào đó. Và trường đại học tại Israel thì có chất lượng không thua kém bất cứ đại học danh tiếng nào trên thế giới.
Theo lời Erik – một người dân Israel thì, đàn ông Israel không có thói quen tụ tập tại các quán bar sau giờ làm việc, trừ những ngày cuối tuần. Hầu hết đều trở về nhà, giúp đỡ vợ những công việc gia đình, xem tivi, đọc sách và ngủ. Làm việc quên giờ giấc cũng là một đặc tính nữa của người Israel. Chắt chiu trong cuộc sống thường ngày, nhưng bù lại họ có niềm đam mê trong việc du lịch và khám phá những vùng đất khác. Chả thế mà người Israel được xem là dân tộc đi du lịch nhiều nhất thế giới.

Tạm kết

Quả thật là lý thú và kỳ diệu, đất nước này, những con người nơi đây. Họ có xứng đáng cho chúng ta học hỏi, từ công việc nông nghiệp, cách dụng người tài, khả năng sáng tạo tuyệt đỉnh cho đến thói quen sinh hoạt thường ngày? Thật đáng khâm phục đúng không?
Con người Israel với khả năng kinh doanh tuyệt vời và những vĩ nhân ảnh hưởng lớn đến thế giới thì chắc hẳn bạn nào yêu thích kinh doanh và từng đọc các cuốn sách “Bí mật người Do Thái dạy con làm giàu, Tủ sách của người Do Thái…” đều được biết. Tuy nhiên, thật không thể ngờ đi sâu vào đất nước ấy lại có nhiều điều thú vị đến vậy. Thiết nghĩ, Việt Nam ta cũng là một quốc gia nông nghiệp thì ta nên học hỏi đất nước này. Ta có một nền tảng tốt hơn, tại sao ta lại không thể làm tốt hơn? Phải chăng cũng vì cái nền tảng tốt đẹp sẵn có mà ta không còn cần phấn đấu và sáng tạo nữa? Thật đáng tiếc, theo một bản tin mới đây, thì mặc cho bầu Đức đã và đang triển khai rất nhiều công nghệ nông nghiệp hiện đại từ từ đất nước này, thì Bộ Công Thương của chúng ta sau một hồi nghiên cứu đã quyết định chọn các tư vấn viên đến từ… Trung Quốc để tư vấn cho nền nông nghiệp nước nhà. (!)
Thật sự là không còn gì để nói…
Phi Tuyết
Các nguồn tham khảo:
  • https://www.facebook.com/IsraelinVietnam
  • http://nld.com.vn/phong-su-ky-su/shabbat-binh-yen-195204.htm
  • http://reds.vn/…/4771-chu-nghia-cong-san-kieu-israel
  • http://embassies.gov.il/hanoi/AboutTheEmbassy/
  • Các thông tin tổng hợp từ cuốn sách “Quốc gia khởi nghiệp” của Dan Senor và Saul Singer.

Chủ Nhật, 6 tháng 7, 2014

Nguồn gốc trống đồng: Cuộc tranh cãi giữa Việt Nam và Trung Quốc

GS Nguyễn Văn Hảo, nguyên Viện phó Viện Khảo cổ cho hay, hiện nay nhiều nước Đông Nam Á cũng có trống đồng. Nhưng ở Việt Nam và Trung Quốc trống đồng có niên đại lâu hơn cả. Việc phân định trống đồng của nước ta có trước, hay Trung Quốc có trước vẫn là vấn đề gây tranh cãi trong giới chuyên môn. Một số chuyên gia khảo cổ học phương Tây cho rằng, Việt Nam là cái nôi của trống đồng, người Trung Quốc đã lấy mẫu trống đó về thêm một số họa tiết để đúc lại. Nhưng theo quan điểm thống trị của Trung Quốc thì trống đồng Vạn Gia Bá ở Vân Nam có đầu tiên, ra đời thứ hai là trống Đông Sơn, thứ ba là trống Thạch Trại Sơn.
Nguồn gốc trống đồng: Cuộc tranh cãi giữa Việt Nam và Trung Quốc
Nguồn gốc trống đồng: Cuộc tranh cãi giữa Việt Nam và Trung Quốc
Để phản bác điều đó nhiều nhà nghiên cứu của nước ta đưa ra lập luận khẳng định Việt Nam là cái nôi của trống đồng. TS Hảo đồng ý với ý kiến Cụ Đào Duy Anh cho rằng, trống đồng Đông Sơn ra đời đầu tiên, sau đó người Hán mới mang về biến cái đó thành của mình. “Không phải tôi là người Việt mà tôi nhất trí như vậy mà nghiên cứu của tôi đã chỉ ra. Khi nói tới trống đồng người ta thừa nhận là nhạc cụ gõ, yếu tố nào quyết định là nhạc cụ thì đầu tiên là hình dáng, mặt trống gõ phát ra âm thanh, thân trống là phần cộng hưởng. Thứ hai, hình dáng trống cũng quyết định đến âm thanh. Thứ ba, chất liệu chế tạo trống. Ba yếu tố đó không chỉ tạo thành âm sắc, âm vực của chiếc trống mà nó có ý nghĩa, nó biểu hiện hồn phách của dân tộc có trống đó, dân tộc nào vẽ hoa văn của dân tộc đó. Hoa văn trên trống đồng là hoa văn thể hiện văn hóa, của dân tộc chế tạo ra hoa văn đó chứ không phải mỗi trống có hoa văn riêng”, GS Hảo cho biết.
Trong sách viết về nguồn gốc trống đồng của người Trung Quốc họ nói chiếc trống cổ do 6 dân tộc chế tạo, trong đó có người Lạc Việt. Số lượng trống tìm thấy là 46 chiếc. Điều đó là bất hợp lý, không thể 6 dân tộc lại chế tạo một loại trống.
Theo nghiên cứu của GS Hảo, chiếc trống Thạch Trại Sơn có hoa văn giống Đông Sơn, nhưng người Điền đã khắc thêm những hoa văn của họ, đè lên hoa văn của Đông Sơn. Trong hội nghị quốc tế tổ chức tỉnh Quế Lâm, Trung Quốc, khi TS Hảo phát biểu và đưa ra những giải thích khiến các nhà khoa học Trung Quốc cũng phải đồng ý. Chính một GS – Hiệu phó của trường Học viện Dân tộc học Quảng Tây tiến hành phân tích đồng vị chì chiếc trống ở Quý Huyện, Quảng Tây cũng khẳng định rằng, chiếc trống đồng cổ nhất của người Đông Sơn chế tạo. Bằng cách nào đó chiếc trống được đưa sang Trung Quốc và được thợ khắc thêm hoa văn trên trống.
Qua tìm hiểu của GS Hảo, những chiếc trống mà Trung Quốc nói là trống cổ của họ, được tìm thấy trong ngôi mộ của viên quan từng cai trị ở nước ta. Vì thế, ông ta mất đi, biết trống đồng quý đã bảo con cháu chôn cất trong mộ của mình. Giống như Mã Viện sang đàn áp khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó lấy trống đồng về đúc ngựa. Do vậy, việc Trung Quốc cũng có những chiếc trống đồng bằng với niên đại ở nước ta là do họ đã mang về để sử dụng.
Những chiếc trống đồng Thạch Trại Sơn của người Điền có cách nay hơn 1 nghìn năm hoa văn tả thực hơn trống Đông Sơn, độ tả thực cao, chi tiết. Tay người đeo vòng, người mặc áo hoa kẻ sọc, có khuyên tai. Điều đó chứng tỏ người Điền lấy trống Đông Sơn cải tạo thành thùng đựng vỏ ốc, mặt họ phá đi đúc mặt mới làm nắp, dưới làm một cái đáy để bỏ vỏ ốc. Đối với người Điền thì ốc là tiền, những vỏ con ốc lợn được lấy từ biển của Ấn Độ, là những thứ rất quý. Những hoa văn gốc của trống như hình ảnh người mặc nửa trần, đội mũ lông chim đặc trưng người Đông Sơn đã bị cạo, khắc hình ảnh đặc trưng của người Điền.
Những lý giải của GS Hảo về trống đồng cổ của ông được Hội đồng nghiên cứu trống đồng Trung Quốc cũng phải công nhận là đúng. Tập luận văn nghiên cứu về trống đồng của GS Hảo hiện được Bảo tàng khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Trung Quốc ghi nhận và lưu giữ tại đây. Nhiều người trong giới chuyên môn đã công nhận Việt Nam là cái nôi của trống đồng.
(Theo Kiến Thức)

Tiếng trống đồng Đông Sơn ở Indonesia


Cập nhật: 10:08 GMT - thứ ba, 24 tháng 9, 2013


Hai năm trước, khi đến thăm Bảo tàng Quốc gia Malaysia ở Kualar Lumpur, tôi đã thấy nhà rông, cồng chiêng và cột nhà mồ như ở Tây Nguyên, Việt Nam và hiểu rằng văn minh Đông Nam Á cổ đã trải rộng thế nào ở châu Á lục địa.
Nhưng tuần qua, khi vào Bảo tàng Quốc gia Indonesia giữa thủ đô Jakarta thì tôi khá ngạc nhiên khi thấy bốn chiếc trống đồng Đông Sơn (Dongson kettledrum) trưng bày ở đó trong phần về di sản văn hóa nước này.
Với các hình mặt trời và cả chim Lạc giống hệt như ở trống ở Bảo tàng Lịch sử tại Hà Nội, trống đồng tại Indonesia, mà họ gọi là gendang, đã được tìm thấy ở các đảo xa ngoài Thái Bình Dương.
Một trong số đảo đó là East Nusa Tengarah (cách TPHCM 2600 km đường chim bay), nơi người ta tìm được một chiếc trống đồng năm 1828.
Nhưng ngoài ba trống đồng có hình người chèo thuyền, chim và thú như trống ở Việt Nam, chiếc thứ tư có hoa văn dạng khác hẳn, cho thấy một sự dịch chuyển, biến đổi về văn hóa trống đồng.
Ngoài khu vực đồng bằng sông Hồng, hàng trăm chiếc trống thuộc nhiều giai đoạn khác nhau đã được tìm thấy ở Nam Trung Hoa, Lào, Thái Lan, và tất nhiên là ở các hải đảo.
Ở đây tôi không muốn đi vào câu chuyện của giới khảo cổ rằng trống đồng đã có ở đâu, ai làm ra...mà chỉ muốn chia sẻ một chút cảm nghĩ về thái độ nhìn lịch sử của người Indonesia.

Giống và khác

Gốm sứ Việt Nam đã đến Indonesia qua nhiều thế kỷ và đóng góp vào văn hóa ở đây
Như câu chuyện trống đồng Indonesia cho thấy, hiện còn rõ dấu tích của một nền văn minh bản địa đã trải rộng từ vùng lục địa Đông Nam Á sang các hải đảo, trước khi hai dòng văn minh lớn khác là Trung Hoa và Hồi giáo ập đến.
Tại Bảo tàng Quốc gia Indonesia, người ta viết rõ rằng quốc gia mà nay có gần 250 triệu dân, là do người chủng Mongoloid từ châu Á lục địa ra và các nhóm Melanesian và Austronesian từ vùng hải đảo tới mà thành.
Sự giao lưu, hòa trộn này có trùng hợp với truyền thuyết '50 con lên rừng, 50 con xuống biển' ở Việt Nam?
Lời thuyết minh cũng nói chừng 6000 năm trước, các nhóm từ lục địa bắt đầu thống lĩnh các đảo mà người Indonesia gọi chung là Nusantara, lập ra các quốc gia sau đó theo Ấn giáo và Phật giáo, trước khi đạo Hồi tràn đến.
Ở thời kỳ tiền Hồi giáo tại Indonesia hay trước Khổng giáo ở Việt Nam, hẳn các tộc người bản địa có trao đổi văn hóa mạnh mẽ, liên tục, nếu không nói là cùng chung nhiều yếu tố từ ngôn ngữ, ăn mặc đến thờ cúng mà các hình trên trống đồng chỉ là một biểu hiện còn thấy được.
Và cứ thể mà suy ra thì nhóm Việt (Kinh) ở Việt Nam hiện nay không phải nhóm thừa kế duy nhất về văn hóa từ đại gia đình Đông Nam Á đó.
Nhưng người Việt vì ở tuyến đầu chống lại sức ép từ Phương Bắc, dù giữ được độc lập đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán sâu rộng hơn hẳn các dân tộc Đông Nam Á khác và phần nào tiếp nhận cả tư duy độc tôn kiểu Hán.
Trái lại, tác động của Trung Quốc đến các đảo Indonesia xa xôi chưa bao giờ mạnh như ở Đông Dương mà chỉ là một trong nhiều dòng văn hóa du nhập vào đây.
Chữ Hán cũng xuất hiện trên các đồ tế tự nhập vào Indonesia bởi người gốc Hoa nhưng sắc dân này cũng thường bị đồng hóa vào các nhóm Phật giáo bản địa và ngôn ngữ Hán chưa bao giờ có vị trí gì cao, theo lời giới thiệu ở Bảo tàng Quốc gia Indonesia.
Bên cạnh dấu ấn từ Ấn Độ và thế giới Hồi giáo luôn rất mạnh và rõ rệt, Bảo tàng này cũng ghi nhận bốn dòng văn hóa ảnh hưởng đến nghệ thuật gốm sứ của họ: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Thái Lan.
Hình chim Lạc trên một chiếc trống đồng Indonesia
Điều này hẳn làm người Việt Nam cảm thấy tự hào nhưng cũng khiến bạn tự hỏi vì sao trong cách trình bày về lịch sử, trong người Việt luôn có xu hướng không rộng rãi và bao dung bằng người Indonesia.
Người Việt thường thích nhấn mạnh đến sự riêng biệt, độc tôn của mình mà làm nhẹ đi nguồn gốc chung với nhiều dân tộc khác dù trên thực tế văn hóa chỉ lớn được qua sự tiếp thu, hội nhập và giao lưu.

Không độc quyền

Sau khi giành độc lập, người Java đông nhất tại Indonesia (hiện có 100 triệu) tự nguyện không chọn tiếng Java mà chấp nhận dùng tiếng Bahasa Indonesia, gốc Mã Lai làm ngôn ngữ quốc gia để thống nhất 300 dân tộc khác nhau trên hàng nghìn hòn đảo.
Nhưng dù dùng chung Bahasa Indonesia, các nhóm sắc tộc Indonesia ngày nay vẫn có quyền học tiếng mẹ đẻ của mình ở trường đến hết tiểu học.
Còn ở Việt Nam, nước chính thức có trên 50 nhóm sắc tộc, tiếng Kinh chiếm ví trí độc tôn trong mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa, xã hội và các ngôn ngữ thiểu số có nguy cơ bị mai một, thậm chí biến mất trong tương lai.
Tính bao dung của Indonesia còn nổi bật lên khi nhìn vào báo chí và hệ thống chính trị.
Dù 86% dân số theo Hồi giáo, các đạo khác Phật, Thiên Chúa giáo...có vị trí được công nhận trong hiến pháp nước cộng hòa.
Các nhà báo Indonesia quan tâm nhiều đến Việt Nam
Hiện nay, đôi khi vẫn có va chạm giữa tín đồ Hồi giáo phái Sunni và thiểu số phái Shia nhưng đây không phải là đề tài cấm kỵ và báo chí nói đến nó liên tục.
Từ sau khi ông Suharto sụp đổ năm 1998, sau một thời 'tập sự dân chủ', nay Indonesia đã có một nền chính trị đa nguyên khá sôi động, và năm 2014 sẽ có kỳ bỏ phiếu khép lại hai nhiệm kỳ của Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono.
Đến Jakarta trước năm bầu cử cả quốc hội và tổng thống nên tôi được nghe các nhà báo ở đây bàn thảo rất nhiều về các ứng viên tiềm năng, các đảng khác nhau, về chuyện tham nhũng, chuyện kinh tế, giao lưu khu vực và cơ hội của Indonesia.
So với nhiều nơi khác ở châu Á, tôi thấy các nhà báo bạn không chỉ cởi mở, trẻ trung, thạo tiếng Anh mà còn rất quý Việt Nam.
Không ít biên tập viên, phóng viên đã từng sang Việt Nam dự các sự kiện thể thao, chính trị ASEAN, và trận đá bóng Cup AFF giữa Việt Nam và Thái Lan tuần rồi cũng trở thành chủ đề bàn tán của các đồng nghiệp trong văn phòng BBC Indonesia ở Jakarta vào sáng hôm sau.
Ngồi ăn bánh chưng chay với các bạn Indonesia, cũng thứ bánh bằng gạo nếp, nhân đỗ xanh, quấn lá chuối nhưng gói mỏng hơn bánh ở Việt Nam, tôi cảm được sự tương đồng văn hóa vẫn còn từ một thời kỳ xa xưa với xứ sở và con người ở đây.
Nhưng hai xã hội này có vẻ đang chọn hay con đường khác nhau.
Indonesia đã và đang thể hiện vai trò đàn anh trong ASEAN, là cầu nối giữa Thế giới Hồi giáo và các cường quốc Phương Tây và có tham vọng thành nền kinh tế lớn thứ 7 thế giới vào năm 2030.
Việt Nam cũng đang nỗ lực đóng một vai trò quan trọng về an ninh vùng nhưng còn thiếu tham vọng ở tầm khu vực cho xứng đáng với số dân và khao khát của giới trẻ.
Trở lại chuyện trống đồng, người Indonesia đang tự hào rằng trên đảo Selayar của họ hiện có chiếc trống đồng Đông Sơn, cũng thuộc loại Heger I, 'to nhất thế giới'.
Indonesia coi trọng quan niệm di sản văn hóa mở
Tranh cãi ai kế thừa cái gì ở thời kỳ chưa hình thành quốc gia dân tộc, như cuộc tranh luận Việt - Trung rằng đâu là cái nôi của trống đồng, dễ trở nên vô nghĩa nếu ta tiếp thu tinh thần vươn ra biển xa của các chủ nhân trống đồng hàng nghìn năm trước.
To lớn nhưng vẫn bao dung trong đa dạng là tinh thần Indonesia ngày nay.
Có thể vì thái độ với quá khứ hẹp hơn các quốc gia hải đảo nên Việt Nam chưa thể 'lướt sóng' ngoài đại dương được?