Thông tin về nhà thuốc Đông y gia truyền dân tộc Trung Thành:

Nhà thuốc Đông Y gia truyền Trung Thành: Địa chỉ 234 Phố Phúc Sơn, Thị Trấn Bút Sơn, Hoằng Hóa, Thanh Hóa Chuyên đặc trị các bệnh vẩy nến, á sừng, tổ đỉa Vì nhân dân phục vụ, chữa bệnh cứu người, đảm bảo không khỏi không lấy tiền. Phục vụ đồng bào nhân dân ở mọi miền tổ quốc. Liên hệ thầy Thành số điện thoại 0915547153.

Thông tin về nhà thuốc Đông y gia truyền dân tộc Trung Thành:

Nhà thuốc Đông Y gia truyền Trung Thành: Địa chỉ 234 Phố Phúc Sơn, Thị Trấn Bút Sơn, Hoằng Hóa, Thanh Hóa Chuyên đặc trị các bệnh vẩy nến, á sừng, tổ đỉa Vì nhân dân phục vụ, chữa bệnh cứu người, đảm bảo không khỏi không lấy tiền. Phục vụ đồng bào nhân dân ở mọi miền tổ quốc. Liên hệ thầy Thành số điện thoại 0915547153.

Thông tin về nhà thuốc Đông y gia truyền dân tộc Trung Thành:

Nhà thuốc Đông Y gia truyền Trung Thành: Địa chỉ 234 Phố Phúc Sơn, Thị Trấn Bút Sơn, Hoằng Hóa, Thanh Hóa Chuyên đặc trị các bệnh vẩy nến, á sừng, tổ đỉa Vì nhân dân phục vụ, chữa bệnh cứu người, đảm bảo không khỏi không lấy tiền. Phục vụ đồng bào nhân dân ở mọi miền tổ quốc. Liên hệ thầy Thành số điện thoại 0915547153.

Thông tin về nhà thuốc Đông y gia truyền dân tộc Trung Thành:

Nhà thuốc Đông Y gia truyền Trung Thành: Địa chỉ 234 Phố Phúc Sơn, Thị Trấn Bút Sơn, Hoằng Hóa, Thanh Hóa Chuyên đặc trị các bệnh vẩy nến, á sừng, tổ đỉa Vì nhân dân phục vụ, chữa bệnh cứu người, đảm bảo không khỏi không lấy tiền. Phục vụ đồng bào nhân dân ở mọi miền tổ quốc. Liên hệ thầy Thành số điện thoại 0915547153.

Thông tin về nhà thuốc Đông y gia truyền dân tộc Trung Thành:

Nhà thuốc Đông Y gia truyền Trung Thành: Địa chỉ 234 Phố Phúc Sơn, Thị Trấn Bút Sơn, Hoằng Hóa, Thanh Hóa Chuyên đặc trị các bệnh vẩy nến, á sừng, tổ đỉa Vì nhân dân phục vụ, chữa bệnh cứu người, đảm bảo không khỏi không lấy tiền. Phục vụ đồng bào nhân dân ở mọi miền tổ quốc. Liên hệ thầy Thành số điện thoại 0915547153.

Chào mừng bạn đến website của Nhà Truốc đông y gia truyền dân tộc Trung Thành.

Nhà thuốc Đông Y gia truyền Trung Thành: Địa chỉ 234 Phố Phúc Sơn, Thị Trấn Bút Sơn, Hoằng Hóa, Thanh Hóa Chuyên đặc trị các bệnh vẩy nến, á sừng, tổ đỉa Vì nhân dân phục vụ, chữa bệnh cứu người, đảm bảo không khỏi không lấy tiền. Phục vụ đồng bào nhân dân ở mọi miền tổ quốc. Liên hệ thầy Thành số điện thoại 0915547153

Wikipedia

Kết quả tìm kiếm

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

Những chú ý khi sử dụng An cung ngưu hoàng hoàn


ST

TPO - Những năm gần đây, những người có bệnh tim mạch thường mách nhau tìm mua loại thuốc có giá rất đắt (khoảng 1 triệu đồng 1 viên) gọi là “An cung ngưu hoàng hoàn”.

Nghe nói, thuốc này cấp cứu tai biến mạch máu não rất tốt, mỗi gia đình đều cần dự trữ ít nhất một viên phòng khi nguy cấp, ngoài ra thuốc còn có thể dùng để dự phòng tai biến mạch máu não...
Xin cho biết: Khi sử dụng An cung ngưu hoàng hoàn cần chú ý những vấn đề gì? Thuốc có độc và tác dụng phụ nguy hiểm?
(Câu hỏi của nhiều độc giả)
+ Đáp:
Nhờ có tác dụng nhanh và hiệu quả rõ rệt, “An cung ngưu hoàng hoàn” (ACNHH) đã trở thành một loại thuốc quý của Đông y, dùng để cấp cứu trong các trường hợp bị hôn mê, rối loạn thần chí trong các bệnh sốt cao, viêm não, tai biến mạch máu não ... ACNHH vốn là bài thuốc cổ, do danh y Ngô Cúc Thông, đời Thanh (Trung Quốc) bào chế và được ghi trong sách “Ôn bệnh điều biện”; Thành phần của ACNHH gồm:
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa.
Ngưu hoàng 30g, uất kim 30g, tê giác 30g, hoàng cầm 30g, hoàng liên 30g, hùng hoàng 30g, sơn chi 30g, chu sa 30g, mai phiến 7g, xạ hương 5g, trân châu 15g. Tất cả tán bột thật mịn, luyện với mật làm viên, mỗi viên 3g, lấy vàng lá làm áo, bao sáp. 
Từ nhiều năm nay, vì tê giác đã trở thành động vật quý hiếm, đưa vào sách đỏ, cấm săn bắt, nên sừng tê giác đã được thay bằng bột sừng trâu cô đặc, mà vẫn có tác dụng tốt như khi dùng tê giác.
Theo Đông y, ACNHH có tác dụng thanh nhiệt giải độc, trấn kinh, khai khiếu, hoát đàm (trừ đờm). Chủ trị nhiệt tà nội hãm tâm bào trong ôn nhiệt bệnh, đàm nhiệt nghẽn tắc tâm khiếu, dẫn đến các triệu chứng: sốt cao phiền táo, hôn mê, nói sàm, hoặc lưỡi rụt, tay chân lạnh toát. 
Do tác dụng cấp cứu nhanh và hữu hiệu, từ xưa thuốc đã được xếp hàng đầu trong “Ôn bệnh tam bảo” (3 loại thuốc quý chữa ôn bệnh, bao gồm ACNHH , “Chí bảo đan” và “Tử tuyết đan”).
Trong Đông y, “cung” chỉ “Tâm bào cung”. “Tâm bào” là cơ quan bọc ngoài tâm (tim). Ôn nhiệt tà độc khi xâm phạm vào tâm, trước hết tác động đến tâm bào. ACNHH là thuốc có khả năng giải trừ tình trạng “đàm nhiệt nội hãm tâm bào”, dẫn tới hôn mê, thần minh nhiễu loạn (rối loạn thần kinh trung ương), tê liệt, nói sàm, chân tay quyết lạnh ... Thuốc có tác dụng giải trừ bệnh lý ở tâm bào (an cung) và thành phần quan trọng nhất là “ngưu hoàng”, nên được đặt tên là “An cung ngưu hoàng hoàn”.
Những năm gần đây ACNHH được sử dụng để cấp cứu và điều trị đột quỵ, nhồi máu não rất hiệu quả và nhanh chóng. Nhiều người bị hôn mê, tiên lượng rất xấu, uống ACNHH đã tỉnh lại và sức khỏe dần dần hồi phục. Tuy nhiên, ACNHH không phải là “thần dược chữa đột quỵ” và không thể áp dụng trong tất cả các trường hợp đột quỵ – tai biến mạch máu não. 
Đột quỵ tương ứng với bệnh “Trúng phong” trong Đông y. Trúng phong là bệnh có bệnh cơ và triệu chứng hết sức phức tạp. Căn cứ vào nguyên nhân và chứng trạng cụ thể, Trúng phong được Đông y chia thành những loại hình (thể bệnh) khác nhau; đối với mỗi thể bệnh cần áp dụng những phương pháp, bài thuốc thích hợp, mới có thể mang lại hiệu quả mong muốn. 
Nói cụ thể hơn, trên lâm sàng Trúng phong được phân chia thành hai loại hình (thể bệnh) lớn: Trúng kinh lạc và Trúng tạng phủ. Mỗi thể lớn lại được phân thành một số thể nhỏ. Trúng tạng phủ được chia thành 2 thể nhỏ: “Nhiệt bế” (Dương bế) và “Hàn bế” (Âm bế). Thuốc ACNHH chỉ có thể áp dụng đối với trường hợp “Nhiệt bế” – Với các triệu chứng chính: Đột nhiên hôn mê bất tỉnh nhân sự, hai hàm răng cắn chặt, miệng mím chặt, hai tay nắm chặt, thân và tứ chi co cứng; Mặt đỏ người nóng, thở thô, miệng hôi, phiền táo , rêu lưỡi vàng nhớt, mạch huyền hoạt. 
Nói chung, khi sử dụng ACNHH ít nhất cần chú ý đến bốn vấn đề sau:
1. Chống chỉ định 1: Hôn mê kèm theo các triệu chứng: Mặt trắng bệch, môi tái nhợt, nằm yên bất động, rêu lưỡi trắng nhớt, tay xòe, chân tay lạnh, mồ hôi trán dính như dầu, chất lưỡi trắng nhớt, ... đó là “hàn bế”; không được uống ACNHH mà cần dùng loại thuốc có tính năng “ôn khai”, như “Tô hợp hương hoàn” . ACNHH là bài thuốc được lập ra để chữa trường hợp hôn mê do “nhiệt bế”, nếu sử dụng đối với “hàn bế” sẽ khiến cho bệnh càng thêm trầm trọng..
2- Chống chỉ định 2: Trong quá trình sử dụng, nếu xuất hiện triệu chứng sợ rét, chân tay lạnh, sắc diện trắng nhợt, vã mồ hôi lạnh, mạch đập yếu, ... , cần lập tức ngừng sử dụng. Đó là hiện tượng Đông y gọi là từ “bế chứng” chuyển sang “thoát chứng”.

3. Đối với phụ nữ mang thai: Trong thành phần của ACNHH có xạ hương và ngưu hoàng là những vị thuốc dễ gây trụy thai. Do đó, phụ nữ đang mang thai cần rất thận trọng khi sử dụng.
4. Không sử dụng quá liều: Trong thành phần của ACNHH có chu sa và hùng hoàng là hai vị thuốc có tính độc. Chu sa có thành phần chính là sunfua thuỷ ngân thiên nhiên (chứa thuỷ ngân (Hg) 86,2% và sunfua (S) 13,8%); Hùng hoàng có thành phần chủ yếu là asen sunfua (AsS) trong đó asen chiếm chừng 70,1%, sunfua 29%. Do đó không được sử dụng với liều cao hoặc sử dụng dài ngày ACNHH. Người chức năng gan thận không kiện toàn sử dụng càng cần thận trọng.
Lương y Hư ĐanTri Thức Trẻ
An cung ngưu hoàng hoàn là gìAn cung Ngưu hoàng hoàn là thuốc cấp cứu Đông y truyền thống, được dùng cấp cứu và điều trị đột quỵ, nhồi máu não cực kì hiệu quả và nhanh chóng, nhiều người bị hôn mê, nằm viện mấy ngày không tỉnh tiên lượng rất xấu, uống An Cung Ngưu Hoàng Hoàn đã tỉnh lại và hồi phục.
Thành phần : Ngưu hoàng , Tê giác (hoặc Thuỷ tê giác),  Trân châu (Ngọc trai), Hoàng liên, Chu sa, Hùng hoàng, hoàng cầm, sơn chi, xạ hương, uất kim.....
 ACNHH là gì?
Là phương thuốc do danh y Ngô Đường, tự Cúc Thông, người đời Thanh (Trung Quốc), đại biểu trọng yếu của học phái ôn bệnh, sáng chế, được ghi trong sách “Ôn bệnh điều biện” nổi tiếng của ông với thành phần gồm: ngưu hoàng 1 lạng, uất kim 1 lạng, tê giác 1 lạng, hoàng cầm 1 lạng, hoàng liên 1 lạng, hùng hoàng 1 lạng, sơn chi 1 lạng, chu sa 1 lạng, mai phiến 2 tiền 5 phân, xạ hương 2 tiền 5 phân, trân châu 5 tiền. Tất cả tán bột thật mịn, dùng mật làm hoàn, mỗi hoàn 1 tiền, lấy vàng lá làm áo, bao sáp.

Công dụng của ACNHH ra sao?
Theo dược học cổ truyền, ACNHH có công dụng thanh nhiệt giải độc, trấn kinh khai khiếu, dục đàm. Chuyên trị ôn nhiệt bệnh, nhiệt tà nội hãm tâm bào, đàm nhiệt ủng bế tâm khiếu dẫn đến sốt cao phiền táo, thần hôn thiềm ngữ (hôn mê, rối loạn ngôn ngữ) hoặc thiệt kiển chi quyết (lưỡi rụt, tay chân giá lạnh), trúng phong khiếu bế, tiểu nhi kinh quyết thuộc đàm nhiệt nội bế.
Đây là một trong ba phương thuốc lương khai trọng yếu (lương khai tam bảo hay ôn bệnh tam bảo) cùng với chí bảo đan và tử tuyết đan, là một trong những dược vật cấp cứu hữu hiệu của Y học cổ truyền. “Cung” là chỉ tâm bào, tâm bào là cái màng ở ngoài bọc lấy tim; ôn nhiệt độc tà nội hãm, khi xâm phạm vào tâm, trước hết là tác động đến tâm bào. Nếu nhiệt tà quá thịnh sẽ làm nhiễu loạn thần minh mà dẫn đến tình trạng thần hôn thiềm ngữ. ACNHH có đủ khả năng thanh hóa đàm nhiệt nội hãm tâm bào, nhiệt thanh đàm hóa thì tâm thần tất an, vì thế mà gọi là “an cung”.
Trong phương, ngưu hoàng, tê giác và xạ hương có công dụng thanh tâm tả hỏa giải độc, dục đàm khai khiếu, tức phong định kính, là quân dược; hoàng cầm, hoàng liên, sơn chi thanh nhiệt tả hỏa giải độc; uất kim tán tà hỏa; mai phiến phương hương khứ uế, thông khai bế; chu sa, trân châu và vàng lá trấn tâm an thần; mật ong hòa vị điều trung.
Tác dụng dược lý của ACNHH là gì?
Tác dụng trấn tĩnh và chống co giật
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, ACNHH khi cho chuột uống hoặc tiêm vào trong ổ bụng đều làm cho chúng giảm thiểu hoạt động tự chủ, xuất hiện hiện tượng yên tĩnh, làm tăng tác dụng ức chế hệ thống thần kinh trung ương và kéo dài thời gian gây ngủ của phenobarbital và pentothal. ACNHH còn chống tác dụng hưng phấn và gây co giật của amphetamin và làm giảm thấp tỷ lệ tử vong do thuốc này gây nên.
Tác dụng hồi tỉnh
Khi tiêm vào ổ bụng của chuột bạch 0,8 – 1ml thanh khai chú xạ dịch, một chế phẩm của ACNHH, liên tục trong 5 ngày, nhận thấy hoạt tính của acetylcholin esterase trong nhân lục (locus cerulerus) gia tăng, chứng tỏ hoạt tính của acetylcholin trong nhân lục có thể kích phát hoạt tính của catecholamine trong các neuron, làm hồi phục công năng hướng tâm của cấu trúc lưới trong chất não, từ đó đạt được tác dụng hồi tỉnh. Nghiên cứu thực nghiệm cũng đã chứng minh tác dụng bảo vệ tế bào gan khỏi sự tác động bất lợi của carbon tetrachloride, làm hồi tỉnh hôn mê gan do nhiễm độc.
Tác dụng giải nhiệt
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh ACNHH có tác dụng làm hạ thấp thân nhiệt của thỏ được gây sốt bằng độc tố của vi khuẩn, tác dụng kéo dài từ 5 – 6 giờ, so với nhóm chứng có sự khác biệt rõ rệt. Nhiều nghiên cứu cũng đã chứng minh tác dụng giải nhiệt của ACNHH trong các trường hợp sốt do tiêm vắc-xin tam liên, thông thường sau khi tiêm vắc-xin chừng 60 phút thân nhiệt tăng cao, dùng ACNHH có thể làm cho thân nhiệt giảm rất nhanh.
Tác dụng chống viêm tiêu thũng
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cũng đã chứng minh tác dụng rõ rệt của ACNHH đối với tình trạng viêm khớp ở chuột. Trên mô hình gây viêm tai chuột bằng dinathylbenzene, ACNHH tỏ ra có tác dụng ức chế rõ rệt quá trình viêm. ACNHH còn có tác dụng kích thích khả năng thực bào của đại thực bào, làm tăng chỉ số và tỷ lệ % thực bào, làm cho đại thực bào to ra và gia tăng số lượng các túi thực bào.
Tác dụng đối với hệ tim mạch
Kết quả nghiên cứu cho thấy, ACNHH có tác dụng làm hạ huyết áp trên động vật thí nghiệm từ 5,4 – 7,5 kPa. Trên tim thỏ cô lập, ACNHH có khả năng ức chế sức co bóp cơ tim và làm giảm tần số tim. Trên chó gây mê, ACNHH làm chậm nhịp tim, hạ huyết áp nhưng lưu lượng động mạch vành và sức bóp cơ tim lại gia tăng. Chứng tỏ thuốc có khả năng cải thiện công năng tim. Ngoài ra, ACNHH còn có tác dụng làm giảm lượng oxy tiêu thụ cơ tim, kéo dài thời gian sống của động vật thí nghiệm trong điều kiện thiếu oxy.

Nguyên tắc điều trị đột quị1.        Sử lý cấp cứu càng nhanh càng tốt để ngăn chặn cơn đột quị, Việc cấp cứu sớm có ý nghĩa rất quan trọng, do trong vài giờ đầu mới xảy ra đột quị thường có nhiều biến chứng đe dọa tính mạng BN nhưng có thể phòng ngừa hay điều trị được
2.        An thần: tức là làm giảm hưng phấn các tế bào não, từ đó làm giảm lượng oxy tiêu thụ
3.        Khai khiếu thông mạch: làm cho các mạch máu não thư dãn, dãn ra cục máu đông thoát đi được, có một số bệnh viện trên thế giới dùng biện pháp nong mạch hoặc giải phẫu
4.        Hoạt huyết tiêu ứ: Dùng  thuốc hoạt huyết tiêu ứ để tiêu trừ những huyết khối, những mảng xơ vữa trong cơ thể
 AN CUNG NGƯU HOÀNG HOÀN – THẦN DƯỢC CHO NGƯỜI ĐỘT QUỊ!
 An cung Ngưu hoàng hoàn là thuốc cấp cứu Đông y truyền thống, được dùng cấp cứu và điều trị đột quỵ, nhồi máu não cực kì hiệu quả và nhanh chóng, nhiều người bị hôn mê, nằm viện mấy ngày không tỉnh tiên lượng rất xấu, uống An Cung Ngưu Hoàng Hoàn đã tỉnh lại và hồi phục.
Thành phần : Ngưu hoàng , Tê giác (hoặc Thuỷ tê giác),  Trân châu (Ngọc trai), Hoàng liên, Chu sa, Hùng hoàng, hoàng cầm, sơn chi, xạ hương, uất kim…..
Trong đó các vị thuốc Tê giác, hoàng cầm, Sơn chi, Hoàng liên  …. thanh nhiệt an thần trấn kinh cực mạnh, làm cho các tế bào não giảm hưng phấn, tiêu thụ oxy ít nhất
Xạ hương có tính chất tuyên thông khai khiếu cực mạnh, làm cho tri giác phục hồi, và có khả năng thông mạch, (chính vì tính chất này nên phụ nữ có thai không được dùng vì sẽ bị sẩy thai)
Chính vì có tính chất như vậy nên bài thuốc này điều trị đột quị (Thể chứng bế, nhồi máu não) cực kì hiệu quả. Các bệnh viện ở Trung quốc đều có loại thuốc này để điều trị đột quị.
Tại sao mỗi gia đình nên có một vài viên An cung  Ngưu Hoàng Hoàn để phòng bị ?
Như trên đã trình bầy, khi đột quị xẩy ra, vấn đề cấp cứu kịp thời cực kì quan trọng, sớm được giờ phút nào hay giờ phút đó. Vì vậy khi tai biến xẩy ra, bạn cần phai cho người bệnh uống thuốc kịp thời để tránh cho tế bào não bị tổn thương  càng ít càng tốt. Cho nên mỗi gia đình cần phải dự trữ ít nhất một viên An cung Ngưu Hoàng hoàn để cấp cứu.
  THÀNH PHẦN AN CUNG NGƯU HOÀNG HOÀN.

Thành phần an cung ngưu hoàng hoàn
Bài thuốc An cung ngưu hoàng hoàn: Ngưu hoàng:  40; Uất kim:          40; Hoàng cầm:     40; Hùng hoàng:    40
Băng phiến:     10; Trân châu:       20; Chu sa:            40; Tê giác:           40
Hoàng lien:      40; Sơn chi:           40; Xạ hương:       10;
   Cách dùng:
Tất cả các v ị thuốc tán bột thật mịn, luyện mật làm hoàn, mỗi viên 4g, mỗi lần uống 1 viên, ngày 2 lần. Trẻ em tùy tuổi giảm liều.
   Tác dụng:
Thanh nhiệt giải độc, khu đàm, khai khiếu.
   Giải thích bài thuốc:
Bài thuốc chủ yếu trị chứng sốt cao hôn mê co giật ( Nhiệt nhập tâm bào), nói sảng, lưỡi đỏ thẫm, mạch “ sác” hoặc trẻ em sốt cao, co giật, trong bài, vị Ngưu hoàng thanh tâm giải độc, hóa đờm, khai khiếu, an thần là chủ dược, Hoàng cầm, Hoàng liên, Chi tử tả tâm hỏa, thanh nhiệt độc, Hùng hoàng cùng với Ngưu hoàng khu đàm giải độc, Uất kim, Băng phiến phương hương hóa trọc thông khiếu khai bế. Chu sa, Trân châu trấn kinh an thần, các vị thuốc hợp lại thành bài thuốc có tác dụng thanh nhiệt giải độc, khu đàm khai khiếu, trấn kinh an thần.
   Ứng dụng lâm sàng:
Đây là một bài thuốc chủ yếu để thanh nhiệt khiai khiếu khu đàm, đối với những bệnh nhân nhiễm độc nặng, sốt cao, hôn mê, co giật như: Viêm  màng não, Viêm não, tai biến mạch máu não, Lỵ nhiễm độc, viêm phổi nhiễm độc cũng có tác dụng tốt. Trương hợp chứng “ nhiệt nhập tâm bào”, sốt cao hôn mê co giật thêm hội chứng “dương minh phù chứng” (táo bón bụng đầy trướng) có thể dùng bài này thêm với bột đại hoàng 12g chia 2 lần uống, gọi là bài “ Ngưu hoàng thừa khí thang”.

Thứ Năm, 27 tháng 3, 2014

Bệnh tổ đỉa nguyên nhân cà cách điều trị

BỆNH TỔ ĐỈA NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ



Tổ đỉa có tên khoa học là Dysidrose, là một thể đặc biệt của bệnh chàm, khu trú ở lòng bàn tay, bàn chân và rìa các ngón, Bệnh thường gặp ở tuổi từ 20 đến 40, nam nữ có tỷ lệ bằng nhau
BỆNH TỔ ĐỈA NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ
Triệu chứng bệnh tổ đỉa

Nguyên nhân bệnh rất đa dạng và phức tạp, một số yếu tố liên quan như dị ứng với hóa chất trong sinh hoạt, trong nghề nghiệp như xăng dầu, xà phòng, xi măng, do nhiễm khuẩn trong khi tiếp xúc với bùn đất, nước bẩn hay gặp nhất là do liên cầu trùng trong thể tổ đỉa nung mủ; do dị ứng với nhiễm nấm ở kẽ chân; do thay đổi thời tiết theo mùa, do ảnh hưởng của ánh sáng và nóng ẩm.

Biểu hiện bệnh tổ đỉa

Bệnh biểu hiện với sang thương là mụn nước khu trú ở lòng bàn tay, bàn chân, đặc biệt ở mé bên của ngón tay, lòng bàn tay, mặt trên - mặt bên và mặt dưới ngón chân, lòng bàn chân. Bệnh không bao giờ vượt lên mé trên cổ tay và cổ chân. Mụn nước ăn sâu vào thượng bì làm da nổi gồ lên, hình tròn, rải rác hay xếp thành chùm, sờ vào mụn nước thấy chắc, cảm giác như có một hạt gì nằm xen trong da, kích thước khoảng 1 - 2mm, có thể trở thành bóng nước nhất là ở lòng bàn tay, bàn chân. Các mụn nước thường xẹp đi và teo đét chứ không tự vỡ, thường có màu hơi ngà vàng, khi bong ra để lộ một nền da hồng, hình đa cung hoặc tròn, có viền vảy xung quanh. Kèm theo rất ngứa, càng gãi càng ngứa, bệnh thường kéo dài khoảng 2 đến 4 tuần, tróc vảy rồi lành và bệnh hay tái phát.
Triệu chứng

- Mụn nước màu trắng trong là triệu chứng chính, kích thước nhỏ khoảng 1mm, nằm sâu, chắc, khó vỡ, thường tập trung thành từng chùm hơi gồ trên mặt da. Đôi khi nhiều mụn nước kết tụ thành bóng nước lớn.

- Vị trí: 90% là gặp ở lòng bàn tay và các rìa ngón tay hoặc là chỉ gặp một trong hai chỗ đã nói trên, còn ở lòng bàn chân và rìa ngón chân thì ít gặp hơn. Tổn thương thường đối xứng và bệnh thường không bao giờ vượt quá cổ tay, cổ chân.

- Bệnh thường xảy ra từng đợt, trước khi nổi mụn nước thường có cảm giác ngứa, rát, một số trường hợp kèm tăng tiết mồ hôi. Mụn nước của bệnh tổ đỉa thường có xu hướng khô ít khi tự vỡ, rồi để lại một điểm dày sừng màu vàng đục, tróc da.

- Khi bị nhiễm khuẩn thì mụn nước hoặc bóng nước sẽ đục, sưng đỏ kèm theo sưng hạch bạch huyết ở vùng kế cận và người bệnh nóng sốt.

Bệnh tổ đỉa được các thày thuốc ngoài da coi như một loại chàm (eczema). Nhưng khác eczema, tổ đỉa chỉ nổi ở lòng bàn tay, lòng bàn chân và ria ngón tay chân, còn eczema thì có thể gặp ở bất cứ vị trí nào trên da. Mặt khác, mụn nước tổ đỉa thường to, sâu, chắc, khó vỡ hơn mụn nước eczema.

Cũng như eczema, tổ đỉa gây ngứa nhiều, bệnh nhân gãi, chà xát làm vỡ mụn nước, dễ thành nhiễm khuẩn phụ, sưng tấy, nổi hạch, có khi phát sốt. Bệnh tiến triển dai dẳng, hay tái phát theo chu kỳ (dân gian gọi là theo tuần trăng) thành mạn tính, kéo dài nhiều tháng, nhiều năm, trở ngại nhiều cho sinh hoạt, lao động nếu không được điều trị đúng đắn.

Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân gây bệnh tổ đỉa rất phức tạp. Dưới đây là một số nguyên nhân thường gặp:

- Dị ứng với hóa chất trong sinh hoạt, trong nghề nghiệp như xăng, dầu mỡ, thuốc kháng sinh, xà bông thơm, xà phòng giặt, chất tẩy rửa, dầu thơm, xi măng, vôi v.v...

- Do nhiễm khuẩn trong khi làm việc, tiếp xúc với đất, nước bẩn.

- Dị ứng với nấm kẽ chân.

- Do tăng tiết mồ hôi tay chân liên quan đến rối loạn thần kinh giao cảm, làm việc trong môi trường nóng ẩm.

Những yếu tố sau đây có thể thúc đẩy tình trạng bệnh khởi phát hoặc nặng hơn:

• Yếu tố tại chỗ: chất tẩy rửa, xà phòng, dung môi, giày dép chật, chất liệu da, đổ mồ hôi nhiều…

• Yếu tố trong không khí: khói thuốc, lông chó mèo, đất bùn, mạt bụi nhà…

• Nhiễm trùng (tụ cầu vàng)

• Thức ăn: hải sản, trứng, thịt gà, bò, đậu phộng, đậu nành, đồ lên men, tinh bột…
Điều trị

Điều trị bệnh tổ đỉa là nhằm làm cho da lành như bình thường, nhưng bệnh có thể tái phát lại nếu hiện diện các yếu tố thúc đẩy bệnh như đã kể ở trên.

Cũng như đối với eczema, điều trị tổ đỉa thường khó khăn. Hai yếu tố nhiễm khuẩn, dị ứng thường kết hợp. Tùy từng trường hợp, thày thuốc sẽ phải dùng đến các thuốc chống nhiễm khuẩn, chống nấm, chống dị ứng toàn thân hoặc tại chỗ. Phải điều tra các chất gây dị ứng để loại trừ. Nếu do rối loạn hấp thụ vitamin, cần bổ sung vitamin thích hợp ( vitamin PP, C, B6 ).

- Tránh bóc vảy, chọc lễ mụn. Nên rửa tay chân nhẹ, không cào gãi,làm xây xước các mụn nước đề phòng nhiễm khuẩn phụ. Không nên ngâm tay nhiều làm ẩm ướt lớp sừng, tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm phát triển mạnh hơn.

- Tránh tiếp xúc xăng dầu, mỡ, xà phòng, hóa chất, thuốc tẩy rửa. Khi cần phải đeo găng bảo vệ.

- Cắt ngắn móng tay và giữ khô, sạch da lòng bàn tay, lòng bàn chân
Điều trị tại chỗ

- Ngâm rửa tay chân với thuốc tím pha loãng 1/10.000có màu hồng.

- Chấm thuốc BSI 1% - 3% khi chỉ có mụn nước đơn thuần.

- Khi tổ đỉa đã nhiễm khuẩn có mủ hoặc bóng nước to thì chích cho vỡ ra, sau đó bôi thuốc chống nhiễm khuẩn như Milian, Eosine.

- Chiếu tia tử ngoại (Ultra violet) tại chỗ.
Điều trị toàn thân

- Uống thuốc chống dị ứng thông thường như: Chlopheniramine , Cetirizine, Loratadine…

- Dùng kháng sinh nếu có nhiễm khuẩn.

- Dùng thuốc kháng nấm nếu bị nhiễm nấm.

Kinh nghiệm chữa ho.

ST
Ai đã từng đau khổ vì BỊNH HO... ho liên tu bất tận, ho đến muốn ngộp thở luôn; ho ran cả ngực, rát cổ họng, cái đầu như sắp bị nứt ra vậy !!! Có nhiều toa thuốc Nam chung qui về các món như chanh muối, mật ong và rượu mạnh.

NHƯNG CÓ MỘT MÓN THUỐC TRỊ HO THẬT ĐƠN GIẢN và CÓ HIỆU LỰC THẬT NHANH CHÓNG.

1- Bốc chừng một nắm lá mơ (thường gọi là lá mơ lông, lá mơ tam thể)


2- Giã nát lá mơ trong một cái cối, giã cho nát bấy ra. Sau đó vắt lấy nước cốt, đựng trong một cái chén nhỏ, độ chừng 30 ml thôi 


3- Lấy một muỗng cà phê MẬT ONG, hòa tan vào 30 ml nước cốt lá 


4- Đem chén nước mơ và mật ong để trong Microwave, bấm chừng 15 giây (15") 


Đem ra thấy ấm ấm và quậy cho mật ong thật hòa tan vào nước mơ. 

Uống từ từ cho hết, để cho thuốc thắm vào cổ họng, chừng 1 hay 2 phút sau rồi sẽ uống 1 ngụm nước tráng miệng thôi. Thuốc có mùi nồng nồng. Chỉ uống 1 lần trước khi đi ngủ và sáng hôm sau là sẽ thấy không còn ho nữa.

PS. Khi ho kèm theo sốt bạn cần gặp bác sỹ. Nhất là ho lâu ngày không thấy đỡ. 

Thứ Sáu, 21 tháng 3, 2014

Xem phim: "Người tình"

Link phim: http://tophd.vn/xem-phim/nguoi-tinh-the-lover_ie8iy.html

‘Người tình’ - khi tình yêu được tình dục dẫn đường

Được chuyển thể từ tiểu thuyết tự truyện cùng tên của văn sĩ Marguerite Duras, “L’Amant” là một trong những bộ phim về tình dục táo bạo nhất của điện ảnh thế giới.
Đông Dương năm 1929, trên một chuyến phà qua sông Mekong, một cô gái Pháp tựa người vào lan can, chân trái hơi nhấc lên để gió thổi tung bay vạt váy. Nàng đội một chiếc mũ rộng vành của đàn ông, chân đi một đôi giày đính cườm sờn rách, môi đỏ rực không đều vì lén dùng son của mẹ. Nhìn y phục có thể đoán ngay được rằng nàng không giàu, thậm chí còn lâm vào cảnh bần hàn. Những đường cong trên cơ thể tố cáo rằng nàng còn rất trẻ, chỉ cố làm ra vẻ người lớn. Thực tế nàng mới 15 tuổi rưỡi, đang trên đường trở lại trường sau kỳ nghỉ lễ dài ngày.
Hình ảnh kinh điển trong bộ phim "Người tình".
Hình ảnh kinh điển trong bộ phim "Người tình".
Nàng không đẹp rực rỡ nhưng có một khuôn mặt bầu bĩnh, ưa nhìn. Làn da trắng muốt lấp ló sau lớp váy mỏng manh gợi những liên tưởng êm dịu. Cách vắt tay hờ hững trên lan can, ánh mắt mơ màng và điệu bộ uể oải của nàng trông lạ lẫm giữa bối cảnh chuyến phà đông đúc đầy nghịt người da vàng lam lũ.
Cùng lúc ấy, trong một chiếc xe limousine màu đen bóng lộn, một gã Hoa kiều lặng lẽ chiêm ngưỡng và thán phục nàng. Hai người nhanh chóng lao vào nhau, cuồng nhiệt, khờ dại như cách thiêu thân lao vào lửa. Họ buông mình vào những cuộc truy hoan bất tận, không cần tương lai, không cần quá khứ.
Chính nàng, một thiếu nữ mới lớn, là người dẫn dắt cuộc chơi. Nàng dâng hiến trinh tiết của mình bằng một thái độ cương quyết mà bình thản. Cô gái ấy có vẻ phóng túng và nổi loạn nhưng những người tinh ý có thể chỉ ra: đằng sau một kẻ bất cần thường là một lòng kiêu hãnh bị tổn thương.
Cha nàng mất sớm, mẹ nàng phải vật lộn để nuôi sống ba đứa con. Sau một vụ đầu tư thất bại, nhà nàng lâm vào cảnh khánh kiệt. Mẹ nàng gần như phát điên. Những người da trắng coi gia đình nàng là một điều sỉ nhục, luôn tìm cách lánh xa. Những người da vàng sợ hãi người có dòng giống từ Pháp cũng không dám lại gần. “Chân không tới đất, cật chẳng tới giời”, gia đình nàng bị cô lập, hầu như chẳng giao tiếp với ai. Nàng đã sống cô đơn như vậy, trải qua tuổi dậy thì với lòng căm ghét dành cho người anh trai bạo lực và sự thương hại dành cho người mẹ khốn khổ. Những ẩn ức bị đè nén bên trong, ẩn sau vẻ ngoài bình lặng.
Cô gái ấy luôn rách rưới, luôn kiêu hãnh, vừa ngây thơ, vừa già cỗi. Lúc nào cũng thảm hại, lúc nào cũng buồn bã, lúc nào cũng đáng yêu. Nàng tìm đến tình dục như một sự nổi loạn, như một biểu hiện của sự chống đối. Vừa mới bước vào tuổi dậy thì, ở nàng hừng hực những ham muốn ái ân. Cô gái ấy, cũng giống như Lolita, có sự trưởng thành rất sớm về mặt tính dục.
"Người tình" có vô số cảnh nóng táo bạo giữa Jane March và Lương Gia Huy.
"Người tình" có nhiều cảnh nóng táo bạo giữa Jane March và Lương Gia Huy.
Nghèo khổ, rách rưới, như một lẽ tự nhiên, nàng bị thu hút bởi vẻ giàu có của người đàn ông: chiếc limousine đen sang trọng, bộ vest trắng bảnh bao, chiếc nhẫn kim cương to chễm chệ trên ngón áp út. Là một kẻ lãng mạn bẩm sinh, yêu văn học và luôn muốn trở thành một nhà văn, nàng thích những chuyện phiêu lưu. Một người đàn ông trưởng thành, một ngôi nhà bí mật, những chuyện ái ân vụng trộm… tất cả đều kích thích trí tưởng tượng của cô gái mới lớn.
Lý do gì, động cơ nào khiến một cô gái trong trắng, vừa bước vào tuổi cập kê có thể dễ dàng trao thân cho một người xa lạ như thế? Khán giả có thể đoán nhưng không thực sự biết. Chính cô gái cũng chưa chắc đã biết. Chỉ biết rằng chiều chiều, nàng lại tìm đến ngôi nhà ở Chợ Lớn để nhấn chìm mình và người tình trong “vương quốc nhục cảm” của hai người.
Đây là vai diễn đầu tiên của nữ diễn viên Jane March khi cô vừa tròn 18 tuổi. Với chất giọng mượt nhẹ, gợi cảm, Jane hút hồn người đàn ông gốc Hoa và bỏ bùa mê với khán giả.
Nếu tâm lý của cô gái rất phức tạp và khó phân tích thì có thể gọi tên ngay tình cảm của người đàn ông gốc Hoa là “tình yêu”. Giàu có, sướng từ trong trứng, chàng chẳng biết làm gì ngoài chuyện làm tình. Chàng sống phụ thuộc vào gia đình, tự ý thức được rằng phải ngoan ngoãn nghe lời cha. Nếu không có tiền của ông, chàng chẳng là gì. Dẫu vậy, chàng đã yêu cô gái người Pháp bằng một tình yêu mãnh liệt và dịu dàng, dai dẳng và nhẫn nại. Một kẻ nổi loạn và một người cam chịu đã yêu nhau bằng một tình yêu vừa uể oải, chán chường, vừa nồng nàn, khắc khoải.
Khoảng 1/5 thời lượng của phim là cảnh ân ái giữa hai người. Trong căn phòng tối, dọc ngang những ánh sáng loang lổ từ ngoài hắt vào là hai thân thể trần trụi ôm siết lấy nhau trong cơn hoan lạc. Mùi ẩm mốc, vẻ tĩnh mịch, những giọt mồ hôi rịn trên da thịt trong một ngày oi ả của Sài Gòn có một cái gì đó “như nhục cảm… một cái gì chín nẫu” mời gọi. Ngoài kia, ngăn cách với cánh cửa, là tiếng ồn ào, huyên náo của cuộc sống mưu sinh. Sự trái ngược ấy làm việc hưởng thụ trái cấm như có cái gì đó thách thức và khiêu khích hơn.
Đạo diễn và quay phim đã khéo léo quay cận cảnh những đường cong trên cơ thể như để tôn vinh sự hòa nhịp giữa xác thịt. Cảnh ân ái trong phim nóng bỏng, táo bạo nhưng không hề phản cảm. L’Amant có những cảnh đẹp làm khán giả phải nín thở và nuốt khan. Đó là cảnh chàng nghịch những ngón tay của nàng ở đầu phim hay cảnh nàng hôn hờ lên cửa kính. Ngôn ngữ cơ thể của cả Jane March và Lương Gia Huy thật tuyệt vời. Họ như những thỏi nam châm hút nhau mãnh liệt.
L’Amant là bộ phim nước ngoài đầu tiên và cho đến nay vẫn là bộ phim có kinh phí lớn nhất từng được thực hiện tại Việt Nam. Đạo diễn Annaud đã định chọn một nơi khác như Malaysia, Thái Lan, Philippines - những nơi có điều kiện cơ sở vật chất tốt hơn để quay phim. Nhưng cuối cùng, ông vẫn phải quay lại nơi đây vì cảm thấy phải là Sài Gòn, phải là Việt Nam mới diễn tả được cái không khí thuộc địa mà Marguerite Duras miêu tả trong tác phẩm.
"Người tình" được quay tại Chợ Lớn của Sài Gòn.
"Người tình" được quay tại Chợ Lớn của Sài Gòn.
L’Amant đã đưa cho đến cho khán giả một Sài Gòn sũng nước, nóng hầm hập 35 độ, trời không một chút gió. Đó là khu Chợ Lớn dơ dáy bẩn thỉu, ngập trong mùi “hủ tíu, thịt heo quay, mùi hoa nhài, bụi rậm và mùi than củi…”. Tiếng ruồi muỗi vo ve trong những hôm trời nồm. Những cơn mưa trắng trời trắng đất đặc trưng của miền Nam. Tất cả đem lại một hình ảnh về Đông Dương của những năm 1920 lộn xộn nhưng gợi cảm.
L’Amant mơn trớn người xem bằng cảm giác dễ chịu của một bàn tay mềm mại vuốt dọc sống lưng. Bộ phim đã thành công trong việc tạo không khí, nhịp điệu, cảm giác, hình ảnh… Tất cả đều đẫm chất thơ. Nhưng bản thân câu chuyện tình giữa thiếu nữ người Pháp và chàng trai gốc Hoa có một cái gì đó ủy mị và không đáng tin.
Bộ phim được chuyển thể từ tiểu thuyết tự thuật của Marguerite Duras, được kể theo điểm nhìn của cô gái. Câu chuyện ấy giống như tưởng tượng của một người đàn bà muốn tin rằng tình yêu đã tồn tại hơn là câu chuyện đã thực sự diễn ra. Những ngày tháng tuổi trẻ đắm mình trong hoan lạc ấy phải có một ý nghĩa gì chứ? Sau những say đắm xác thịt, người đàn bà buộc phải tin rằng có một cái gì đó cao hơn, tồn tại giữa hai người. Đó là lòng kiêu hãnh mơ mộng của phụ nữ. Họ vin vào những điều như thế để sống.  
L’Amant là một hồi ức đẹp về tình yêu đã mất. Thông qua cái nhìn hồi tưởng, những nét xấu xí bị tước bỏ đi, chỉ còn những dịu ngọt ở lại. Bộ phim có thể khiến cho những người thực tế nhăn mày, nhưng lại dễ chịu, duyên dáng vô song đối với những người yêu sự gợi cảm và lãng mạn.

Thứ Năm, 20 tháng 3, 2014

Bài thuốc đông y chữa bệnh vẩy nến hiệu quả tốt nhất



Bệnh vảy nến là một bệnh ngoài da rất phổ biến trên thế giới và Việt Nam. Bệnh mang tính di truyền, không nguy hại đến tính mạng, không lây nhưng thường kéo dài, tái phát, gây nhiều khó chịu cho bệnh nhân. Để giúp bạn đọc có thêm kiến thức về bệnh vẩy nến và cách thức điều trị bệnh hiệu quả nhất, chúng tôi đã có dịp trao đổi với Thạc sĩ - bác sĩ Vũ Hồng Hạnh, trưởng ban chủ nhiệm nghiên cứu các bệnh về da liễu của Trung tâm Thừa kế và Ứng dụng Đông y Việt Nam.

Chuyên đề đi tìm phương pháp chữa bệnh vẩy nến

PV: Chào bác sĩ Vũ Hồng Hạnh, xin bác sĩ cho chúng tôi và độc giả biết thông tin về bệnh vẩy nến và nguyên nhân gây bệnh?

Ths Vũ Hồng Hạnh: Theo Đông y, bệnh vảy nến gọi là tùng bì tiễn, là bệnh ngoài da mạn tính, hay tái phát. Thương tổn cơ bản của bệnh vảy nến là đỏ da, có vảy nổi cộm ít hoặc nhiều. Nền đỏ này thường có vảy trắng, xám phủ lên trên, phải cạo hết lớp vảy này mới thấy rõ. Bệnh hay phát vào mùa đông, ở da đầu và mặt ngoài của tay, chân; nặng thì phát ra toàn thân kèm theo sưng đau các khớp tay chân.

Nguyên nhân của bệnh vảy nến là do huyết nhiệt, lại cảm phải phong hàn mà thành bệnh, lâu ngày làm huyết táo không nuôi dưỡng được da nên nảy sinh vảy nến.

PV: Với kinh nghiệm nghiên cứu và chữa bệnh của mình, xin bác sĩ cho biết các phương pháp điều trị vẩy nến hiện nay.

Ths Vũ Hồng Hạnh: Hiện nay, có rất nhiều phương pháp điều trị bệnh vẩy nến. Tuy nhiên, bệnh nhân bị vẩy nến nên chú ý lựa chọn cho mình một phương pháp trị bệnh an toàn và hiệu quả.

Phương pháp Tây y, thường sử dụng thuốc điều trị tại chỗ như Corticoisteroid, Ciclosporin, Calcipotriene, Anthralin… thuốc dễ sử dụng, có tác dụng nhanh, dung nạp tốt nhưng thuốc lại có một số tác dụng phụ như teo da, giãn mạch, ức chế thượng thận, dễ tái phát, có thể gây kích ứng da, tăng canxi máu, nhuộm màu da, kích ứng da,…

Phương pháp quang trị liệu: Sử dụng tia UVB (Goeckerman), PUVA chiếu vào vùng da bị tổn thương. Phương pháp này có tác dụng khỏi bệnh nhanh, kéo dài, tỉ lệ sạch thương tổn cao. Tuy nhiên, thuốc này có tác dụng phụ như: tổn thương da do ánh sáng, phát ban ánh sáng đa dạng, tăng nguy cơ lão hóa và ung thư da.

Phương pháp Đông y điều trị vẩy nến cũng có hiệu quả không kém gì phương pháp Tây y. Thậm chí phương pháp này còn có những ưu điểm vượt trội hơn hẳn so với phương pháp khác. Thành phần thuốc Đông y điều trị bệnh vẩy nến là những dược liệu tự nhiên nên rất lành tính, an toàn, không có tác dụng phụ. Điều trị bằng Đông y có thể điều trị được tận gốc của bệnh, ngăn ngừa tái phát.

PV: Theo như bác sĩ nói thì phương pháp Đông y là phương pháp điều trị bệnh vẩy nến mang lại hiệu quả, tốt nhất hiện nay. Vậy bác sĩ có thể nói cụ thể hơn về bài thuốc mà trung tâm đang sử dụng để điều trị cho bệnh nhân vẩy nến hiện nay?

Ths Vũ Hồng Hạnh: Hiện tại, trung tâm chúng tôi đang sử dụng “bài thuốc Đông y đặc trị bệnh vẩy nến, viêm da”. Bài thuốc này là kết quả của sự chuyển giao từ những bài thuốc quý của dân tộc Việt. Thành phần của thuốc bao gồm: hoàng kỳ, quế chi, qương qui, phòng phong, liên kiều, cam thảo, sinh địa, thổ phục, khương hoạt, ké đầu ngựa, kim ngân hoa, thăng ma, chích thảo, địa phu tử…

Bài thuốc điều trị theo phương thức kết hợp nội trừ, ngoại tiêu. Thuốc có dạng uống điều trị tận gốc phát sinh của bệnh từ bên trong cơ thể và cao bôi ngoài nhằm điều trị các vết thương bôi ngoài da. Phương pháp điều trị chặt chẽ này nhằm ngăn ngừa bệnh tái phát trở lại.

PV: Thưa bác sĩ, việc điều trị bệnh vẩy nến không hề đơn giản vì bệnh rất dễ tái phát. Vậy chế độ ăn uống, sinh hoạt có ảnh hưởng đến diễn biến của bệnh không thưa bác sĩ?

Ths Vũ Hồng Hạnh: Đúng như chị nói, chế độ ăn uống, sinh hoạt có ảnh hưởng trực tiếp đến diễn biến của bệnh nên người bệnh cần có kế hoạch ăn uống, sinh hoạt hợp lý để điều trị bệnh triệt để và tránh tái phát.

Bệnh nhân nên tránh các thức ăn như: Họ cam quýt (cả trái cây lẫn nước ép), đường (cả đường tinh luyện lẫn tự nhiên), thực chiên xào lẫn chế biến sẵn như thịt hộp, thịt nguội, thức ăn nhiều gia vị, hạt tiêu…

Ngược lại những thức ăn giàu kẽm, omega 3 (cá thu, cá mòi, hạt hướng dương, hạnh nhân…), ngũ cốc, lúa mì, rau xanh, đậu lăng… lại rất tốt cho bệnh nhân vảy nến.

Bên cạnh đó bệnh nhân cần uống đủ 2,5 lít đến 3 lít nước một ngày, tinh thần thỏa mái, ngủ ít nhất một ngày 7 tiếng…

PV: Vâng, xin cảm ơn bác sĩ đã tham gia buổi phỏng vấn của chúng tôi. Kính chúc bác sĩ sức khỏe và thành công trong sự nghiệp, chúc trung tâm ngày càng phát triển vững mạnh.

Trong thời gian qua Ban biên tập Cổng thông tin khoa học bệnh vẩy nến, á sừng nhận được rất nhiều câu hỏi về bài thuốc chữa bệnh vảy nến á sừng của Trung tâm thừa kế và phát triển đông y Việt Nam. Để bạn đọc có thể hiểu thêm về bài thuốc. Ban biên tập đã liên lạc và được Trung tâm, trung tâm đã đồng ý cung cấp số điện thoại tư vấn điều trị bệnh vẩy nến á sừng bằng bài thuốc của trung tâm.


Hotline: 0974013296 - (04)62 941 458
Website: http://www.trungtamduoclieu.com/
Email: benhdaday.thuocdantoc@gmail.com
Địa chỉ: Số 3/25 - Đường Nguyễn Chí Thanh - Ba Đình - Hà Nội

Thuốc nam trị lở ngứa


Trong bài viết này chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc một số phương tiêu biểu để tham khảo và có thể áp dụng trị bệnh lở ngứa.
Thuốc nam trị lở ngứa
Trong bài viết này chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc một số phương tiêu biểu để tham khảo và có thể áp dụng trị bệnh lở ngứa.
Cây sài đất
Cây sài đất.
Phương thuốc chữa lở ngứa người lớn: vỏ cây gạo có gai thái tươi phơi khô 40g, ké đầu ngựa sao vàng 20g, dây vảy ốc leo thái tươi phơi khô 20g, cỏ chỉ thiên 16g, cỏ nhọ nồi 16g, dây kim ngân 12g, ô rô nước 8g cho cùng vào sắc uống 3 lần trong ngày.

Gia giảm: Nếu da nơi lở ngứa khô, không mồ hôi, gia hương nhu, hoa kinh giới, trắc bách diệp, bỏ kim ngân và nhọ nồi trong phương trên.

Nơi lở ngứa chảy nước vàng, gia sài đất.

Đái dắt nước vàng nóng, tức bọng đái, gia thổ phục linh, lá cối xay nhưng lại bỏ kim ngân, nhọ nồi trong phương trên.

Phụ nữ ra khí hư, gia lá bạc thau, vòi voi, sài đất, bỏ kim ngân, nhọ nồi.

Người gầy yếu, bỏ kim ngân, nhọ nồi, gia lá sung, lá tiết dê, dây chiều, xích đồng nam, dây tơ hồng xanh.

Phụ nữ sau sinh đẻ bị lở ngứa, ăn yếu, chậm tiêu, sữa ít, chân tay tê mỏi, bỏ kim ngân, nhọ nồi, gia lá sung, lá mít, nàng nàng, cây cà gai, dây chiều, hương phụ chế.

Trị lở ngứa trẻ em: ké đầu ngựa 20g, vỏ gạo gai 20g, dây kim ngân 12g, dây vảy ốc 12g, sài đất 12g, dây và lá bạc thau 8g. Sắc uống đặc ngày 1 thang chia 3 lần, mỗi lần uống có thể thêm đường cho dễ uống hoặc cho vào 7 - 8 khẩu mía. Nếu trẻ nào kèm ho gà, gia vỏ quýt lâu năm, lá chanh, cà gai leo.

Kết hợp: Kiêng dùng xà phòng khi tắm, đun nước sôi để nguội tắm. Có thể cho lá sòi và củ dáy dại đun sôi kỹ chắt lấy nước tắm, không pha nước lã hoặc bất cứ nước gì.

Cần ăn kiêng các thức như tôm, cua, nhộng tằm, ớt, chuối tiêu, thịt gà, thịt chó.
BS. Hoàng Xuân Đại
Theo Sức khỏe & đời sống

Bài thuốc dân gian trị ngứa


Cây đậu săng (đậu chiều, đậu cọc rào).
Cây đậu săng (đậu chiều, đậu cọc rào).

Ngứa là một chứng phổ biến, hay gặp nhiều trong mùa nắng nóng. Dân ta thường xếp ngứa là một trong hai cực hình khó chịu bậc nhất: “đau đẻ, ngứa ghẻ”. Nó bắt phải “sột soạt luôn tay tựa gẩy đàn” mọi lúc mọi nơi, không chỉ khó chịu mà nhiều khi rất… bất lịch sự.

Trên thực tế, ngứa không chỉ do ghẻ và các ký sinh trùng gây bệnh ngoài da, mà còn do nhiều bệnh khác dẫn tới như: ung thư, đái tháo đường, bệnh gan mật, bệnh thận, rối loạn chức năng thần kinh, dị ứng… Nếu để kéo dài, chứng ngứa sẽ làm cho người bệnh luôn ở trạng thái căng thẳng, cáu gắt, bực bội triền miên, từ đó ảnh hưởng sâu sắc đến tâm thần, làm giảm sút năng suất, chất lượng công tác, học tập.

Để giải quyết chữa trị một số chứng ngứa thông thường, xin giới thiệu một bài thuốc Nam tâm đắc gồm 7 vị, có thể tìm thấy dễ dàng ở mọi miền trên nước ta. Đó là: Rau má, chó đẻ, cỏ sữa nhỏ lá, đậu săng (mỗi thứ một nắm, khoảng 60g tươi hoặc 30g khô), khoai lang (một củ), đường bát (đường đen xứ Quảng) 1/4  tán, gan heo tươi (1 lạng). Tất cả rửa sạch cho vào ấm sắc thuốc, đổ 2 lít nước, sắc còn 1 lít, chia uống 3 lần trong ngày. Không để qua ngày vì dễ thiu. Có thể tóm tắt như sau:

Rau má, cỏ sữa, khoai lang
Đậu săng, chó đẻ, miếng gan, cục đường.
Chớ chê vị thuốc tầm thường
Bách phương chữa ngứa, chẳng nhường thua ai.

Trong bài thuốc này, gan heo, đường đen, khoai lang là các vị thuốc bổ huyết, bổ tỳ vị (tỳ sinh huyết). Riêng khoai lang còn có tác dụng nhuận trường. Còn các vị rau má, chó đẻ, cỏ sữa (nếu không có loại nhỏ lá có thế thay bằng cỏ sữa lớn lá), đậu săng là thuốc thanh nhiệt tiêu độc.

Tôi đã ứng dụng điều trị bằng cách kê đơn và hướng dẫn người bệnh tự tìm thuốc trong nguồn thuốc Nam hoang dã, hầu như không tốn kém. Theo dõi kết quả, nhận thấy bài thuốc rất thích ứng các chứng ngứa ngoài da mà mắt thường không thấy gì đặc biệt (trừ những tổn thương do gãi). Thường chỉ dùng từ 1 đến 3 thang là có kết quả. Sau đó có thể dùng thêm vài ba ngày nữa (liều lượng giảm 1/2 ) để phòng tái phát.

Đối với các bệnh ngoài da như ghẻ, nấm (có tổn thương da mà mắt nhìn thấy được như nốt ngứa, luống ghẻ...) mà cơ địa người bệnh nóng nhiệt có thể dùng bài này uống trong kèm với thuốc bôi ngoài đặc trị theo từng loại bệnh thì kết quả càng nhanh. Đối với các bệnh khác dẫn đến chứng ngứa cần điều trị bệnh gốc đồng thời có thể kết hợp bài này để giảm ngứa. Nhưng lưu ý, người bệnh có triệu chứng hàn (như sợ lạnh, ăn kém, ỉa chảy lỏng kéo dài...) thì không được dùng bài này.

Xin nói thêm, đây là bài thuốc lưu truyền trong dân gian, do Lương y Lâm Quang Thành ở xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang trực truyền cho tôi cách đây vài chục năm. Tôi đã để tâm truy tìm nguồn gốc bài thuốc, nhưng trong tất cả các sách thuốc Nam cổ điển và hiện đại mà chúng tôi đang có chưa thấy ở đâu ghi bài thuốc này. Căn cứ vào vị thuốc “đường bát”, rất có thể đây là bài thuốc có xuất xứ từ quê hương Quảng Nam-Đà Nẵng.  
Lương y PHAN CÔNG TUẤN